|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18-6-2025
“V/v ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thảo
Các Hội thẩm nhân dân.
- 1. Bà Trần Thị Mộng Lành
- 2. Ông Hà Minh Hằng
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 87/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 77/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị M, sinh ngày 16 tháng 3 năm 2003 (có mặt);
- Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2000 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp P, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 23 tháng 01 năm 2025 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lê Thị M trình bày và yêu cầu như sau:
Chị và anh Nguyễn Tuấn K chung sống với nhau vào năm 2023, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 10 tháng 01 năm 2023. Chị và anh Nguyễn Tuấn K không có con chung, không có tài sản chung, không có nợ người khác, người khác không nợ anh chị. Quá trình chung sống chị và anh Nguyễn Tuấn K không lo làm ăn mà đi chơi bời bỏ mặt chị, anh chị luôn bất đồng quan điểm sống, thường xuyên bất hòa cự cãi với nhau, hâm dọa sẽ giết chị như tin tức đưa trên mạng, sống không hạnh phúc và chị sống ly thân với anh Nguyễn Tuấn K từ tháng 01 năm 2025 cho đến nay. Chị thấy, chị và anh Nguyễn Tuấn K không còn tình cảm vợ chồng, chị yêu cầu cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn K. Về quan hệ con chung, tài sản chung và nợ không có, chị cam kết không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Tuấn K: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh Nguyễn Tuấn K biết để anh có ý kiến về việc chị Lê Thị M yêu cầu được ly hôn với anh nhưng anh Nguyễn Tuấn K không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình nên Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
* Tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án gồm: Căn cước công dân Lê Thị M, sinh ngày 16 tháng 3 năm 2003 (Bản sao); Giấy chứng nhận kết hôn chị Lê Thị M và anh Nguyễn Tuấn K số: 06, ngày 10 tháng 01 năm 2023 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (Bản chính); Đơn xin xác nhận tình trạng cư trú ngày 23 tháng 01 năm 2025 của chị Lê Thị M (Bản chính); Xác nhận thông tin về cư trú số: 000043/XN ngày 24 tháng 01 năm 2025 của Công an xã Đ, huyện A (Bản chính).
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Lê Thị M yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn K. Về quan hệ con chung, tài sản chung và nợ không có, chị cam kết không yêu cầu giải quyết, ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Nguyễn Tuấn K vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- - Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện các trình tự thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Tuấn K vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do đề nghị xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung vụ án: Xét đơn khởi kiện của chị Lê Thị M yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn K là có căn cứ chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Lê Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn K. Về quan hệ con chung, tài sản chung và nợ, chị Lê Thị M tự xác định không có, anh chị không yêu cầu giải quyết đề nghị miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lê Thị M yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Tuấn K. Nguyên đơn và bị đơn đều cư trú tại: xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang nên xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Tuấn K biết và ấn định thời gian để anh có ý kiến về việc chị Lê Thị M khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn K nhưng anh không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Toà án tổ chức và thông báo cho các bên đương sự để tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Nguyễn Tuấn K vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Như vậy, đây thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Nguyễn Tuấn K nhưng anh Nguyễn Tuấn K vẫn cố tình vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Tuấn K theo quy định tại khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung: Xét về quan hệ hôn nhân, chị Lê Thị M và anh Nguyễn Tuấn K chung sống với nhau vào năm 2023, có đăng ký kết hôn và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang là một trong những nơi anh chị cư trú) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 06 ngày 10 tháng 01 năm 2023, anh chị đảm bảo các điều kiện kết hôn khác theo quy định của pháp luật là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét khởi kiện của chị Lê Thị M yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn K, quá trình chung sống anh Nguyễn Tuấn K không lo làm ăn mà đi chơi bời bỏ mặt chị, anh chị luôn bất đồng quan điểm sống, thường xuyên bất hòa cự cãi với nhau, hâm dọa sẽ giết chị như tin tức đưa trên mạng, sống không hạnh phúc, chị và anh Nguyễn Tuấn K sống ly thân với nhau từ tháng 01 năm 2025 cho đến nay. Chị thấy, chị và anh Nguyễn Tuấn K không còn tình cảm vợ chồng, chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn K thì anh Nguyễn Tuấn K không có ý kiến yêu cầu gì, không quan tâm đến việc chị Lê Thị M yêu cầu ly hôn với anh là vi phạm nghĩa vụ giữa vợ chồng thời gian dài, vợ chồng không chăm sóc, lo lắng lẫn nhau mà anh chị không có biện pháp hàn gắn để chung sống với nhau nên hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, chị Lê Thị M cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn K. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị Kiểm sát viên và yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị M, cho chị Lê Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn K là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung, tài sản chung và nợ, chị Lê Thị M tự xác định, chị và anh Nguyễn Tuấn K không có con chung, không có tài sản chung, không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị cam kết không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 241, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTV QH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn K.
- Về quan hệ con chung, tài sản chung và nợ: Chị Lê Thị M tự xác định, chị và anh Nguyễn Tuấn K không có con chung, không có tài sản chung, không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị cam kết không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
- Về án phí: Buộc chị Lê Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011913 ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Lê Thị M đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 18/6/2025. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thảo |
Bản án số 55/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 55/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị M yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn K
