TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 16/6/2025.
“V/v tranh chấp xin ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thanh Thúy.
2. Bà Trần Thị Phiến.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Thiên Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bạch Nhạn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16/6/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2025/TLST-HNGĐ ngày 24/3/2025 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2025/QĐXXST-DS ngày 06/5/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 82/2025/QÐST-DS ngày 26/5/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Hồ Thị Đ, sinh năm 1989 (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 26/5/2025).
Địa chỉ: Số A, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Điện thoại: 0829.666.xxx
Chỗ ở: Ấp C, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Lương Văn T, sinh năm 1985 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai, bản tự khai nguyên đơn chị Hồ Thị Đ trình bày:
Chị Hồ Thị Đ và anh Lương Văn T do quen biết nhau năm 2008, có tìm hiểu nhau, có tổ chức đám cưới vào năm 2011, có đăng ký kết hôn và được UBND xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 18 ngày 12/02/2011. Sau khi kết hôn thì chị Đ và anh T về sống nhà trọ ở thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó về sống nhờ nhà cha, mẹ ruột của anh T tại: số A, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp
Thời gian đầu thì chị Đ và anh T chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do anh T thường xuyên cờ bạc, đi Campuchia đánh bạc, không quan tâm chăm sóc gia đình, chị Đ và gia đình của anh T khuyên can nhưng anh T không nghe, từ đó tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không còn hạnh phúc. Chị Đ nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không còn hạnh phúc, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tính tình không phù hợp, hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Đ yêu cầu ly hôn với anh T
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Có 01 con chung tên Lương Hồ Bích N, sinh ngày 11/9/2012 (hiện nay đang sống với chị Đ). Chị Đ yêu cầu được nuôi con sau khi ly hôn, chị Đ không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Chị Đ trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị Đ trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lương Văn T vắng mặt không có ý kiến trình bày:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn anh T không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
- Về việc đường lối giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử theo hướng:
- + Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Đ.
- + Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Có 01 con chung tên Lương Hồ Bích N, sinh ngày 11/9/2012 (hiện nay đang sống với chị Đ). Đề nghị tuyên giao cháu N cho chị Đ nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Việc cấp dưỡng nuôi con chị Đ và anh T tự thỏa thuận, chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
Anh Lương Văn T có quyền và nghĩa vụ đến năm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- + Về tài sản chung: Chị Đ trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- + Về nợ chung: Chị Đ trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Hồ Thị Đ yêu cầu ly hôn với anh Lương Văn T. Anh T có nơi cư trú tại: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào các Điều 56, 71, 72, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp xin ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, Đồng Tháp.
[2] Về xét xử vắng mặt đương sự: Kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa anh T đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh T vắng mặt, đồng thời không có văn bản ý kiến trình bày. Tòa án đã hoãn phiên tòa ngày 26/5/2025, tại phiên tòa lần hai (ngày 16/6/2025) anh T vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh T là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về hôn nhân: Chị Đ và anh T quen biết năm 2008, có tìm hiểu nhau, có tổ chức đám cưới năm 2011, có đăng ký kết hôn và được UBND xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 18 ngày 12/02/2011 do đó hôn nhân của chị Đ và anh T là hợp pháp.
Sau khi kết hôn thì chị Đ và anh T sống nhà trọ ở thành phố Hồ Chí Minh, sau đó về sống nhờ nhà cha, mẹ ruột của anh T tại: Số A, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Thời gian đầu chị Đ và anh T chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do anh T thường xuyên cờ bạc, không quan tâm chăm sóc gia đình, chị Đ và gia đình của anh T khuyên can nhưng anh T không nghe, từ đó tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không còn hạnh phúc. Chị Đ nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tính tình không phù hợp, hôn nhân không thể hàn gắn, vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Đ yêu cầu ly hôn với anh T.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cho anh T (bà Huỳnh Thị Kim X mẹ ruột của anh T là người nhận thay) đồng thời theo lời khai của bà X ngày 26/5/2025 thì khi nhận các văn bản tố tụng của Toà án đã thông báo và chụp hình gửi qua zalo cho anh T biết, từ đó đủ cơ sở xác định được anh T biết chị Đ xin ly hôn, nhưng anh T không có ý kiến, cũng không đến Tòa án để trình bày. Căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định anh T thừa nhận các ý kiến chị Đ trình bày và đây là tình tiết không cần phải chứng minh. Từ các căn cứ trên xác định hôn nhân giữa chị Đ và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 yêu cầu xin ly hôn của chị Đ là có cơ sở nên chấp nhận.
[4] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Có 01 con chung tên Lương Hồ Bích N, sinh ngày 11/9/2012 (hiện nay đang sống với chị Đ). Chị Đ yêu cầu được nuôi con sau khi ly hôn, anh T không có ý kiến trình bày. Hội đồng xét xử xét thấy cháu N sống với chị Đ hiện đã ổn định do đó tiếp tục giao con chung cho chị Đ nuôi dưỡng là phù hợp. Việc cấp dưỡng nuôi con chị Đ và anh T tự thỏa thuận, chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
Anh Lương Văn T có quyền và nghĩa vụ đến năm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
[5] Về tài sản chung: Chị Hồ Thị Đ trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
[6] Về nợ chung: Chị Hồ Thị Đ trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
[7] Về án phí: Căn cứ vào các Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Do yêu cầu xin ly hôn của chị Đ được chấp nhận nên chị Đ phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, số tiền tạm ứng án phí chị Đ đã nộp được trừ vào án phí chị Đ phải chịu.
[8] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đ là phù hợp với quy định pháp luật nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Các Điều 56, 71, 72, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Đ.
Chị Hồ Thị Đ được ly hôn với anh Lương Văn T.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:
Giao cháu Lương Hồ Bích N, sinh ngày 11/9/2012 (hiện nay đang sống với chị Đ) cho chị Hồ Thị Đ chăm sóc nuôi dưỡng sau khi chị Đ và anh T ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chị Đ và anh T tự thỏa thuận, chị Đ không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Anh Lương Văn T có quyền và nghĩa vụ đến năm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị Hồ Thị Đ trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- Về nợ chung: Chị Hồ Thị Đ trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Hồ Thị Đ phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, số tiền án phí chị Đ đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004312 ngày 18/3/2025 được trừ vào án phí chị Hồ Thị Đ phải nộp (chị Đ đã nộp xong án phí).
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Nhân |
Bản án số 55/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 55/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Đ
