Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 55/2025/HNGĐ - ST

Ngày 16 tháng 4 năm 2025

Về việc “Tranh chấp ly hôn”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Nguyên và ông Trần Thanh Việt

Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 119/2025/QÐST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Hồng Nhung, sinh năm: 1991. Địa chỉ: số 7/1 khóm Bình Thới 2, phường Bình Khánh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. ĐT: 0768.522.xxx (có đơn xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Lương Trọng Hữu, sinh năm: 1987; Địa chỉ: số 310/23 khóm Bình Khánh 5, phường Bình Khánh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. ĐT: 0338.622.xxx (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng Nhung trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nhung và ông Hữu tự nguyện quen biết tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình Khánh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang vào ngày 20/7/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng quan điểm dẫn đến cự cãi. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nhung yêu cầu ly hôn với ông Hữu.

Về con chung: có 02 (hai) con chung tên Lương Trọng Phát, sinh ngày: 11/8/2007 và Lương Tiến Đạt, sinh ngày 25/12/2019. Sau khi ly hôn, bà Nhung yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đạt; giao cháu Phát cho ông Hữu nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lương Trọng Hữu không tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải nhưng có mặt tại phiên tòa trình bày.

Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất với trình bày của bà Nhung về quá trình chung sống, đăng ký kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Hữu đồng ý ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của bà Nhung.

Về con chung: có 02 (hai) con chung tên Lương Trọng Phát, sinh ngày: 11/8/2007 và Lương Tiến Đạt, sinh ngày 25/12/2019. Sau khi ly hôn, ông Hữu yêu cầu được nuôi cháu Phát; giao cháu Đạt cho bà Nhung trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Nhung có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn ông Hữu thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Nhung.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án;

- Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và còn phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Nguyên đơn, bị đơn tự nguyện tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn là có cơ sở theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận; Về con chung: giao ccon chung tên Lương Trọng Phát, sinh ngày: 11/8/2007 cho ông Hữu trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Lương Tiến Đạt, sinh ngày 25/12/2019 cho bà Nhung tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đối với cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nhung khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Hữu. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.

[2] Nguyên đơn bà Nhung có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là có căn cứ.

- Về nội dung vụ án:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nhung và ông Hữu xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Khi vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên bà Nhung cương quyết yêu cầu ly hôn và tại phiên tòa ông Hữu cũng thống nhất với trình bày của bà Nhung và đồng ý ly hôn theo yêu cầu khởi kiện.

Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, bà Nhung, ông Hữu đều xác định không thể tiếp tục chung sống, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, giữa vợ chồng không còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như không cố gắng hàn gắn, duy trì cuộc sống hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của các bên và chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nhung là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: có 02 (hai) con chung tên Lương Trọng Phát, sinh ngày: 11/8/2007 và Lương Tiến Đạt, sinh ngày 25/12/2019. Sau khi ly hôn, bà Nhung yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đạt; giao cháu Phát cho ông Hữu nuôi dưỡng.

Hội đồng xét xử nhận thấy, 02 con chung đều chưa thành niên, đối với cháu Phát hiện đang sinh sống với ông Hữu và tại biên bản ghi nhận ý kiến cháu cũng có nguyện vọng được sống cùng ông Hữu sau khi cha mẹ ly hôn; còn cháu Đạt đang sinh sống, học tập và được bà Nhung nuôi dưỡng ổn định từ khi ông bà ly thân cho đến nay. Vì vậy, nhằm để ổn định cuộc sống của các cháu không bị ảnh hưởng tâm sinh lý về việc cha, mẹ ly hôn và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Lương Trọng Phát, sinh ngày: 11/8/2007 cho ông Hữu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Lương Tiến Đạt, sinh ngày 25/12/2019 cho bà Nhung tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là chính đáng, phù hợp ý kiến của các đương sự theo quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Đối với việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, nhưng bà Nhung và ông Hữu không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: ghi nhận ý kiến của bà Nhung trình bày không có nên không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nhung phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông Hữu không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 186; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Hồng Nhung đối với ông Lương Trọng Hữu.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Hồng Nhung đối với ông Lương Trọng Hữu.

[2] Về con chung: giao con chung tên Lương Trọng Phát, sinh ngày: 11/8/2007 cho ông Lương Trọng Hữu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành; giao cháu Lương Tiến Đạt, sinh ngày 25/12/2019 cho bà Phạm Thị Hồng Nhung trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành.

Bà Phạm Thị Hồng Nhung, ông Lương Trọng Hữu không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản bà Nhung, ông Hữu thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định. Việc nuôi con không cố định.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét, giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.

[5] Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí sơ thẩm: Bà Phạm Thị Hồng Nhung phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002262 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên ngày 13/02/2025. Bà Nhung đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Hữu không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS TP.Long Xuyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - VP (5)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HNGĐ - ST ngày 16/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 55/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nhung - HỮu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger