|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P THÀNH PHỐ H |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16/4/2025. V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hồng Tâm và bà Nguyễn Thị Thanh Phượng.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Trà Thị Mỹ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện P, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 111/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024 về việc “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, thành phố H, có mặt.
Bị đơn: Anh Phạm Tăng V, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, thành phố H, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/8/2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày 20/8/2024, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày của chị Lê Thị N tại phiên tòa, đã xác định như sau:
Chị Lê Thị N và anh Phạm Tăng V tìm hiểu nhau một thời gian rồi tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P vào ngày 22/10/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh V có quan hệ tình cảm với người khác, nguyên đơn nhiều lần khuyên nhủ và tha thứ nhưng anh V vẫn không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng thường xuyên xích mích, cãi vã. Quá trình chung sống, anh V không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên có hành vi đánh đập chị N nên từ cuối năm 2021 đến nay, hai vợ chồng sống ly thân với nhau, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N xin được ly hôn với anh V.
Về con chung, chị N trình bày vợ chồng có 04 người con chung là cháu Phạm Lê N1, sinh ngày 22/04/2010; cháu Phạm Phương N2, sinh ngày 16/3/2015; cháu Phạm Lê Bảo A, sinh ngày 20/4/2017 và cháu Phạm Lê Bảo K, sinh ngày 05/11/2018. Hiện nay các con đều đang được chị N nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cả 04 cháu đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh V cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị N trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập và các Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho anh V về việc chị N xin ly hôn và tranh chấp nuôi con. Tuy nhiên, hết thời hạn luật định anh V không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án cũng đã nhiều lần thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh V đều vắng mặt.
Theo biên bản xác minh ngày 24/01/2025 tại chính quyền địa phương và gia đình đã xác định:
Anh Phạm Tăng V đăng ký thường trú tại thôn T, xã P, huyện P, thành phố H. Về quan hệ hôn nhân, chị N và anh V có đăng ký kết hôn tại xã P vào ngày 22/10/2009, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân; về con chung có 04 người con như chị N trình bày. Ủy ban nhân dân xã P đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và cử cán bộ giao cho anh V nhưng không tống đạt được, có liên lạc với anh V qua điện thoại nhưng anh V không hợp tác. Bởi vậy, Tòa án đã phối hợp với Ủy ban nhân dân để tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng nêu trên.
Do không tiến hành hòa giải được nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ngày 31/3/2025, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử ban hành quyết định hoãn phiên tòa và đã tống đạt hợp lệ cho các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ hai, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn tiếp tục vắng mặt.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; về án phí đề nghị xử buộc nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Theo Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nêu trên là hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Bởi vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Phạm Tăng V tự nguyện tìm hiều chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được công nhận hôn nhân hợp pháp. Xét về quá trình hôn nhân giữa chị N và anh V, Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình sống chung, giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nên thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Do đó, chị N và anh V đã sống ly thân từ cuối năm 2021 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai, cuộc sống mỗi người tự lo liệu. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không được. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không được do bị đơn vắng mặt. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
[2.2] Về con chung: Chị N và anh V có 04 người con chung là cháu Phạm Lê N1, sinh ngày 22/04/2010; cháu Phạm Phương N2, sinh ngày 16/3/2015; cháu Phạm Lê Bảo A, sinh ngày 20/4/2017 và cháu Phạm Lê Bảo K, sinh ngày 05/11/2018. Hiện nay các con đều đang được chị N nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào biên bản ghi nhận ý kiến của cháu N1, cháu N2 và cháu Bảo A, cùng với việc các cháu còn nhỏ, phần lớn thời gian sinh hoạt và gắn bó với mẹ, cần sự quan tâm, chăm sóc thường xuyên để đảm bảo sự phát triển toàn diện. Mặt khác, sau khi vợ chồng sống ly thân, bị đơn bỏ mặc các cháu, không quan tâm, chăm sóc con chung. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của nguyên đơn.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử đã giải thích cho chị N rõ về các quy định của Luật hôn nhân gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Chị N trình bày chị có công việc ổn định, có đủ điều kiện để nuôi con, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con, theo chị N nếu yêu cầu anh V cũng không có điều kiện cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Lê Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị N, chị Lê Thị N được ly hôn với anh Phạm Tăng V.
- Về con chung: Giao 04 người con chung là cháu Phạm Lê N1, sinh ngày 22/04/2010; cháu Phạm Phương N2, sinh ngày 16/3/2015; cháu Phạm Lê Bảo A, sinh ngày 20/4/2017 và cháu Phạm Lê Bảo K, sinh ngày 05/11/2018 cho chị Lê Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh Phạm Tăng V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xử buộc chị Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004410 ngày 13/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện P, thành phố H. Chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Sang |
Bản án số 55/2025/HNGĐ-ST ngày 16/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H về ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Số bản án: 55/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị N xin ly hôn anh Phạm Tăng V
