|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:55/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 12/03/2025
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Mạnh Tưởng.
Ông Nguyễn Tiến Bộ.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Luân – Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 443/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị V, sinh năm 1985. Nơi đăng ký thường trú: cụm dân cư xóm F, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1985. Nơi đăng ký thường trú: Cụm D, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội.
(Nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là chị Lê Thị V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 03/8/2010 tại UBND xã P, huyện M, thành phố Hà Nội. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2014 thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm, lối sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng không tin tưởng và tôn trọng nhau. Chị đã tìm nhiều biện pháp để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không có kết quả. Vợ chồng chị đã ly thân nhiều lần, có lần từ năm 2017 rồi lại về ở một thời gian thì tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, gần đây nhất vợ chồng lại ly thân từ tháng 12/2024 đến nay, mỗi người một cuộc sống riêng, không ai còn quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị xin ly hôn anh Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn H có 01 con chung là cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 06/02/2011. Hiện nay cháu T đang ở với anh H. Nay ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu T cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị tự nguyện cấp dưỡng để anh H nuôi con 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/01/2025, bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lê Thị V tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 03/8/2010 tại UBND xã P, huyện M, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh sinh sống tại xóm F, xã P. Anh và chị V chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2024 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do tính cách vợ chồng không hợp nhau, bất đồng trong cuộc sống và làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Anh đã khuyên bảo chị V để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12/2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị V xin ly hôn, anh xin đoàn tụ vì anh còn thương con và anh không muốn gia đình phải chia ly. Trường hợp chị V cương quyết xin ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của chị V.
- Về con chung: Anh và chị V có 01 con chung là cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 06/02/2011. Hiện nay cháu T đang ở với anh. Trường hợp vợ chồng phải ly hôn, anh H có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Anh không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản xác minh ngày 14/01/2025, tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện M, thành phố Hà Nội thể hiện: Chị Lê Thị V và anh Nguyễn Văn H có đăng ký kết hôn số 51/2010, quyển số 01/2010 ngày 03/8/2010 tại UBND xã P. Hiện nay đời sống chung vợ chồng giữa chị V và anh H xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung vợ chồng không hòa thuận, mục đích hôn nhân không đạt được. Địa phương đã nhiều lần khuyên giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân. Chị V và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 06/02/2011. Hiện nay cháu T đang ở với anh H tại địa phương. Quan điểm của địa phương: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Lê Thị V vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Văn H vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức (Thẩm phán, Thư ký tòa án) đã thụ lý, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa hôn nay, bị đơn mặc dù được Tòa án nhiều lần giao các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không đến làm việc, nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị V, xử cho chị Lê Thị V được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 06/02/2011. Hiện nay cháu T đang ở với anh Nguyễn Văn H. Chị Lê Thị V đề nghị giao cháu T cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, anh H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu T và cháu T có nguyện vọng được ở với anh H. Do vậy, giao cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T. Ghi nhận sự tự nguyện của chị V cấp dưỡng số tiền 3.000.000 đồng/tháng để anh H nuôi con chung.
Tài sản chung và nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Lê Thị V phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Lê Thị V khởi kiện yêu cầu xin ly hôn anh Nguyễn Văn H nên thuộc tranh chấp về Ly hôn theo quy định khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn H có đăng ký thường trú tại: Cụm D, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức theo quy định điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo thủ tục chung.
Về nội dung:
[1]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Lê Thị V và anh Nguyễn Văn H được xây dựng trên cơ sở tìm hiểm tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện M vào ngày 03/8/2010 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có hạnh phúc và đã sống ly thân, mỗi người một nơi, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh H có quan điểm xin đoàn tụ vì còn thương con và không muốn gia đình chia ly nhưng anh H không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng, còn chị V cương quyết xin ly hôn. Xét thấy, các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh H đã bị vi phạm, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay sống ly thân mỗi người một nơi. Do vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị V và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2]. Về con chung: Chị Lê Thị V và anh Nguyễn Văn H có 01 con chung Nguyễn Anh T, sinh ngày 06/02/2011, con khỏe mạnh và hiện nay đang ở với anh H.
Xét yêu cầu giao con chung Nguyễn Anh T cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc của chị V, Hội đồng xét xử thấy: Từ khi chị V và anh H ly thân đến nay, cháu T sinh sống, học tập ổn định với anh H, cháu được anh H chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển bình thường. Anh H có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu T và cháu T cũng có đơn đề nghị với nguyện vọng xin được ở với anh H. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của con chung, phù hợp với sự tự nguyện của các đương sự nên cần thiết chấp nhận yêu cầu của chị V và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, theo đó giao cháu Nguyễn Anh T cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của chị V cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng, để anh V nuôi con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có thỏa thuận thay đổi khác; việc cấp dưỡng nuôi con kể từ tháng 03/2025.
[3]. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị V đối với anh Nguyễn Văn H.
Xử chị Lê Thị V được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
-
Về con chung: Xác nhận chị Lê Thị V và anh Nguyễn Văn H có 01 con chung Nguyễn Anh T, sinh ngày 06/02/2011.
Giao con chung Nguyễn Anh T cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Ghi nhận sự tự nguyện của chị V cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H số tiền 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Sau khi ly hôn chị Lê Thị V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con và các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị V phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0077012 ngày 30/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Chị Lê Thị V còn phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lê Thị Vui V và bị đơn anh Nguyễn Văn H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Việt Cường |
Bản án số 55/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 55/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
