TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09-6-2025
V/v: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thanh Hùng
Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khánh Nguyên – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Tú – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2025/TLST – HN ngày 20 tháng 01 năm 2025 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1999. Địa chỉ: số D ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Bến Tre. (Xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1996. Địa chỉ: ấp Q, xã H, huyện T, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt không có lí do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H trình bày:
Vào năm 2019 chị và anh Đ có quen biết rồi tiến tới hôn nhân, có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã H vào ngày 22/11/2019. Cuộc sống hôn nhân của chị và anh Đ gần đây không còn hạnh phúc do vợ chồng nãy sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh Đ ham chơi cờ bạc, chị khuyên nhủ nhiều lần không nghe nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chị đã sống ly thân anh Đ. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã sống ly thân nên chị yêu cầu ly hôn anh Đ. Về con chung: Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Gia B, sinh ngày 20/12/2021, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết và nợ chung không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng chị không yêu cầu.
Trong quá trình tố tụng anh Nguyễn Thành Đ vắng mặt nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú phát biểu quan điểm:
Về trình tự, thủ tục: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn Nguyễn Thị Mỹ H đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Thành Đ không đến Tòa để tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Căn cứ vào các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Chị Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn với anh Nguyễn Thành Đ. Chị H không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.
- - Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ H được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 20/12/2021, anh Đ không cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu.
- - Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Sau khi ly hôn, các đương sự có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Căn cứ vào đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ H yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Thành Đ nên căn cứ vào điều 51 Luật hôn nhân gia đình xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn”.
- Anh Nguyễn Thành Đ hiện đang cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
- Xét việc anh Nguyễn Thành Đ vắng mặt tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Nguyễn Thành Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng anh Đ vẫn không có mặt. Việc vắng mặt không rõ lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh Đ theo quy định Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H theo qui định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về hôn nhân: Xét về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn thấy rằng chị H và anh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 22/11/2019. Do đó hôn nhân của anh, chị đã tuân thủ đầy đủ các quy định về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
- Xét lời trình bày của chị H cho rằng mối quan hệ hôn nhân giữa chị và anh Đ gần đây không còn hạnh phúc do vợ chồng nãy sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh Đ ham chơi cờ bạc, chị khuyên nhủ nhiều lần không nghe nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, hiện chị đã sống ly thân anh Đ, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn.
- Đối với anh Nguyễn Thành Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử cùng với kết quả xác minh về tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh Đ cho thấy nội dung mà chị H đã trình bày về tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh Đ là có căn cứ chấp nhận. Từ đó cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị H và anh Đ đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp.
- Về con chung: Cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 20/12/2021 hiện đang sống cùng chị H và chị H có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh Đ không có ý kiến đối với con chung. Xét thấy chị H có đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dạy con chung để con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần. Vì vậy giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Đồng thời ghi nhận việc anh Đ không cấp dưỡng nuôi con chung do chị H không yêu cầu.
- Về tài sản chung: Chị H trình bày không có tài sản chung, anh Đ không ý kiến về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Chị H trình bày không có nợ chung, anh Đ không ý kiến về nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Chị H phải nộp án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ H. Chị H được ly hôn với anh Nguyễn Thành Đ.
Chị H không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ H được trực tiếp nuôi con chung cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 20/12/2021, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị H không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích con chung chưa thành niên, theo yêu cầu của chị H và anh Đ có thể yêu cầu Tòa án thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con
- Về tài sản chung: Chị H trình bày không có tài sản chung, anh Đ không ý kiến về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Chị H trình bày không có nợ chung, anh Đ không ý kiến về nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Nguyễn Thị Mỹ H phải nộp số tiền là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008649 ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
- Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Hồng Thúy |
Bản án số 55/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 55/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Nguyễn Thị Mỹ Huyền yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Thành Đô
