|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2025/HNGĐ-ST Ngày: 04/4/2025 V/v: Xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Khắc Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng
Ông Nguyễn Tất Thể
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 239/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024 về việc “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2025/QÐST-HNGĐ ngày 26/3/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1971; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1975; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Hiện đang lao động tự do tại Malaysia. (Vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 11/01/1995. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại địa phương. Đến năm 2010, bà T đi xuất khẩu lao động tại Malaysia.
Năm 2012, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng và ly thân từ đó cho tới nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Vợ chồng sống xa cách nhau nên không còn tình cảm, không còn quan tâm, trách nhiệm gì với nhau. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Nguyễn Văn H đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với bà Nguyễn Thị T.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Thế H1, sinh ngày 11/7/1996 và Nguyễn Thế D, sinh ngày 23/8/1998. Nay hai con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Nguyễn Văn H đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Hiện nay H đang lao động tự do, không chủ động thời gian làm việc nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Hiện nay, bị đơn bà Nguyễn Thị T đang lao động tự do tại Malaysia, không có địa chỉ cụ thể. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương cũng như thông qua người thân bà T nhưng vẫn không xác định được địa chỉ của bà T. Tòa án đã tiến hành đăng tin trên kênh của Ban Đối ngoại (VOV5) Đ trong ba ngày liên tiếp 12, 13, 14/02/2025 để thông báo cho bà Nguyễn Thị T có mặt tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên hết thời hạn được thông báo, bà T không có mặt tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Do đó, Toà án không thu thập được ý kiến cũng như lời khai của bà T, không tiến hành hoà giải vụ án được.
Tại Biên bản xác minh với chính quyền địa phương, Đại diện Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh cung cấp thông tin như sau: Vợ chồng ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình chung sống, vợ chồng ông H, bà T có mâu thuẫn gì hay không thì Ủy ban nhân dân xã C không nắm được vì ông H, bà T không có báo cáo gì với chính quyền địa phương.
Tại các Biên bản xác minh với ông Nguyễn Phi A và bà Hoàng Thị S (em trai ruột và mẹ đẻ của bà Nguyễn Thị T), ông A và bà S có nội dung trình bày: Việc ông H nộp đơn xin ly hôn, gia đình đã nhận được thông báo của Tòa án và báo lại cho bà T biết. Hiện bà T đang lao động tại Malaysia, vẫn thường liên lạc với gia đình, tuy nhiên gia đình không biết địa chỉ cụ thể của bà T nên không cung cấp cho Tòa án được. Gia đình tự nguyện nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và thông báo đầy đủ lại kịp thời cho bà T được biết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau và đề nghị Tòa án áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, 39, 143, khoản 4 Điều 147, Điều 464, 469 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 123 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H; xử cho ông Nguyễn Văn H được ly hôn với bà Nguyễn Thị T.
Về con chung: Các con chung đã trưởng thành nên không yêu xem xét.
Về nợ chung, tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Buộc nguyên đơn ông Nguyễn Văn H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T đăng ký kết hôn ngày 11/01/1995 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Nay ông Nguyễn Văn H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị T. Tại công văn cung cấp thông tin danh sách khách xuất nhập cảnh số 1339/QLXNC-Đ1 ngày 20/12/2024 của Phòng Q – Công an tỉnh H, xác nhận: Bà Nguyễn Thị T, sinh ngày 10/6/1975; số Hộ chiếu: B9676310; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh ngày 17/5/2015, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ các Điều 28, 37, 39; nội dung khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
[1.2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Nguyễn Thị T đang lao động ở nước ngoài, vắng mặt không có lý do; qua xác minh, người thân của bà T không cung cấp được địa chỉ cụ thể của bà T ở nước ngoài nên thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Mặc dù đã được Tòa án thông báo làm việc, triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng bà T không có mặt tại Tòa án để tham gia giải quyết vụ án và vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt ông H, bà T theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung:
Ngày 11/01/1995. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại địa phương. Đến năm 2010, bà T đi xuất khẩu lao động tại Malaysia. Năm 2012, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng và ly thân từ đó cho tới nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Vợ chồng sống xa cách nhau nên không còn tình cảm, không còn quan tâm, trách nhiệm gì với nhau. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Nguyễn Văn H đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với bà Nguyễn Thị T.
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T tự do tìm hiểu, kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 1995, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Căn cứ quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của ông H và bà T là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại địa phương. Đến năm 2010, bà T đi xuất khẩu lao động tại Malaysia. Năm 2012, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng và ly thân từ đó cho tới nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Vợ chồng sống xa cách nhau nên không còn tình cảm, không còn quan tâm, trách nhiệm gì với nhau. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Nguyễn Văn H đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với bà Nguyễn Thị T. Bị đơn bà Nguyễn Thị T đã được Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt các thông báo, quyết định và đăng tin thông báo theo quy định của pháp luật nhưng không có mặt tại Tòa án để giải quyết, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án.
Xét thấy mâu thuẫn giữa ông H và bà T là có xảy ra trên thực tế và đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, không còn quan tâm, trách nhiệm gì đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc ông H yêu cầu được ly hôn bà T là có căn cứ và phù hợp. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông H, cho ông H và bà T ly hôn.
[2.2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thế H1, sinh ngày 11/7/1996 và Nguyễn Thế D, sinh ngày 23/8/1998. Hiện nay các con đã thành niên nên không xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3]. Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 469, 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Văn H. Cho ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T ly hôn.
- Về án phí: Ông Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000207 ngày 04/12/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Tất Thể Bùi Văn Hồng |
Trần Khắc Hoàng |
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Khắc Hoàng |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Bản án số 55/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về xin ly hôn
- Số bản án: 55/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Văn H. Cho ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T ly hôn
