|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2025/DS-ST
Ngày: 27/6/2025
V/v "Tranh chấp hợp đồng tín dụng sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG – TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Bạt Hào
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Văn Bút
- Bà Lê Thị Hồng
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ly – Cán bộ Tòa án
Ngày 27/6/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 79/2025/TLST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 36/2025/QĐST-DS ngày 16/6/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1. Địa chỉ: Tòa nhà T, số E phố L, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh P, chức vụ: Chủ tịch HĐQT. Người được ủy quyền lại: Bà Nguyễn Thúy T, chức vụ: Cán bộ xử lý nợ; Địa chỉ: Số D đường N, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng, bà T có mặt.
- Bị đơn: Ông Ngô Viết C, sinh năm: 1998; Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và ý kiến trong quá trình tố tụng tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thúy T trình bày:
Ngày 01/08/2022, ông Ngô Viết C có đề nghị mở thẻ tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần T2 (T3) thông qua hình thức trực tuyến (online) theo quy định của T3. Sau khi đánh giá khách hàng, ngày 01/08/2022 T3 đã chấp thuận đề nghị của ông Ngô Viết C, đồng thời phát hành cho ông Ngô Viết C một thẻ tín dụng với thông tin: Số thẻ: 498796xxxxxx6418; Loại thẻ: Thẻ tín dụng quốc tế T3 Evo hạng Vàng; Hạn mức thẻ tín dụng: 40,000,000 đồng; Mục đích: Thanh toán, tiêu dùng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày 01/08/2022 đến ngày 20/02/2023, tổng số tiền ông Ngô Viết C đã giao dịch bằng thẻ là 229,194,180 đồng; Số tiền ông Ngô Viết C thanh toán cho T3 là 217,381,301 đồng, bao gồm số tiền gốc: 204,837,218 đồng; lãi: 12,544,083 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo khoản 1 Điều 6 của bản Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế T3, số hiệu 1379/2021/QĐ-TPB.RB ngày 14/09/2021).
Từ ngày 05/02/2024, ông Ngô Viết C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại T3. T3 đã làm việc, gửi thông báo nhắc nợ nhưng không nhận được sự hợp tác trả nợ từ ông Ngô Viết C. Việc vi phạm nghĩa vụ của ông Ngô Viết C như trên đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của T3. Do ông Ngô Viết C vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên ngày 06/05/2024 T3 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Nay Ngân hàng kính đề nghị quý Tòa xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. Buộc ông Ngô Viết C thanh toán ngay cho T3 số tiền tính đến ngày 27/6/2025 là: Nợ gốc thẻ: 24,356,962 đồng; Nợ lãi trong hạn: 9,388,352 đồng; Nợ lãi quá hạn: 15,741,413 đồng; Nợ phí thường niên: 495,000đồng. Tổng dư nợ: 49.981.727 đồng.
Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng TMCP T1 rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với khoản nợ lãi chậm trả: 17,910,459 đồng.
* Bị đơn ông Ngô Viết C đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến nên không có lời khai của ông C trong hồ sơ vụ án và không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như ý kiến về việc có hay không yêu cầu phản tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP T1 với ông Ngô Viết C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Bị đơn ông Ngô Viết C (là bị đơn trong vụ án, không có yêu cầu phản tố) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông C.
[2] Về nội dung vụ án:
Ngày 01/08/2022, ông Ngô Viết C có đề nghị mở thẻ tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần T2 (T3) thông qua hình thức trực tuyến (online) theo quy định của T3. Sau khi đánh giá khách hàng, ngày 01/08/2022 T3 đã chấp thuận đề nghị của ông Ngô Viết C, đồng thời phát hành cho ông Ngô Viết C một thẻ tín dụng với thông tin: Số thẻ: 498796xxxxxx6418; Loại thẻ: Thẻ tín dụng quốc tế T3 Evo hạng Vàng; Hạn mức thẻ tín dụng: 40,000,000 đồng; Mục đích: Thanh toán, tiêu dùng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày 01/08/2022 đến ngày 20/02/2023, tổng số tiền ông Ngô Viết C đã giao dịch bằng thẻ là 229,194,180 đồng; Số tiền ông Ngô Viết C thanh toán cho T3 là 217,381,301 đồng, bao gồm số tiền gốc: 204,837,218 đồng; lãi: 12,544,083 đồng.
Nay Ngân hàng đề nghị quý Tòa xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. Buộc ông Ngô Viết C thanh toán ngay cho T3 số tiền tính đến ngày 27/6/2025 là: Nợ gốc thẻ: 24,356,962 đồng; Nợ lãi trong hạn: 9,388,352 đồng; Nợ lãi quá hạn: 15,741,413 đồng; Nợ phí thường niên: 495,000đồng. Tổng dư nợ: 49.981.727 đồng. Đồng thời ông C còn phải tiếp tục trả lãi tính từ ngày 28/6/2025 cho đến khi ông Ngô Viết C thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy:
Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP T1 với ông Ngô Viết C trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Ngô Viết C đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã thỏa thuận giữa hai bên, liên tục không trả nợ trong nhiều kỳ. Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông C vẫn không có thiện chí trả nợ. Nay Hợp đồng đã quá hạn và hết hạn theo hợp đồng. Hội đồng xét xử xét thấy ông C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã ký kết trong hợp đồng tín dụng. Việc khởi kiện của Ngân hàng TMCP T1 yêu cầu Tòa án buộc ông C phải trả số tiền còn nợ nói trên là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng; Điều 463 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên cần được chấp nhận.
[4] Đối với rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, Ngân hàng rút khoản nợ lãi chậm trả: 17,910,459 đồng. Việc rút yêu cầu là tự nguyện nên HĐXX cần đình chỉ đối với yêu cầu này.
[5] Về án phí:
Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T1 được chấp nhận nên bị đơn là ông Ngô Viết C phải chịu án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cụ thể số tiền ông Ngô Viết C phải chịu là 2.499.086₫.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng TMCP T1 đối với ông Ngô Viết C.
Xử:
- Buộc ông Ngô Viết C phải thanh toán nợ vay cho Ngân hàng TMCP T1 số tiền nợ gốc và lãi phát sinh tính đến ngày 27/6/2025 là 49.981.727 đồng (Bốn mươi chín triệu chín trăm tám mươi mốt ngàn bảy trăm hai mươi bảy đồng). Trong đó nợ gốc là 24,356,962 đồng; Tiền lãi trong hạn là 9,388,352 đồng; Tiền lãi quá hạn là 15,741,413 đồng; Nợ phí thường niên: 495,000đồng.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối khoản nợ lãi chậm trả: 17,910,459 đồng
- Án phí dân sự sơ thẩm: 2.499.086₫ đồng ông Ngô Viết C phải chịu.
- Ông Ngô Viết C tiếp tục trả lãi kể từ ngày 28/6/2025 cho đến khi ông C thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo cam kết tại Hợp đồng cung cấp thẻ tín dụng ngày 01/08/2022.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP T1 số tiền tạm ứng án phí 1.549.023 đồng theo biên lai thu số 0008482 ngày 12/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐỊNH BẠT HÀO |
Bản án số 55/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 55/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng tiên phong
