|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 55/2025/DS-ST
Ngày 25-3-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Phước .
- Ông Đào Khel .
- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Ngọc Hân là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc - Kiểm Sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 426/2024/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị Yến N, sinh năm 1993. Hộ khẩu thường trú: Số H, đường T, khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng(vắng mặt)
Địa chỉ trụ sở chính: Số B - B, đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Trần Đức T– nhân viên Công ty TNHH MTV Q khai thác tài sản Ngân hàng Thương mại cổ phần S theo văn bản uỷ quyền ngày 19/5/2023.
Địa chỉ: Số B, đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh(Có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/7/2023 của nguyên đơn Ngân hàng TMCS S trình bày:
Vào ngày 12/11/2018, bà Phạm Thị Yến N1 ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP S (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ vào thu nhập của bà N2 hàng đã cấp hạn mức tín dụng là 20.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất thoả thuận 31,2%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà N3 thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 27.411.050 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà N4 không có thiện chí trả nợ. Do bà N5 phạm nghĩa vụ thanh toán, (theo Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/8/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (theo Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết: Buộc bà Phạm Thị Yến N6 trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 25/3/2025 là 75.377.722 đồng; trong đó: Vốn gốc: 20.625.576 đồng, lãi quá hạn: 54.752.146 đồng và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 26/3/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Đối với bị đơn bà Phạm Thị Yến N: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Các giấy triệu tập; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bà Phạm Thị Yến N7 bà N8 có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án, cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, thực hiện đúng theo quy định tại các điều 68; 70; 71; 86 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn bà N8 thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S kiện yêu cầu bị đơn bà Phạm Thị Yến N, Hộ khẩu thường trú: Số H, đường T, khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thanh toán số tiền vốn và lãi vay còn nợ là 75.377.722 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/11/2018. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Trần Đức T1 đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn bà N3 được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S việc yêu cầu bà N9 số tiền gốc và lãi là 75.377.722 đồng, thì thấy:
Theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/11/2018, Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng) do nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S cấp có chữ ký và chữ viết tên của bà Phạm Thị Yến N. Tòa án đã thông báo cho bà N10 các tài liệu chứng cứ trên nhưng bà N8 có ý kiến phản đối. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Đồng thời, sau nhận thẻ tín dụng, bà N3 thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 27.411.050 đồng, đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 11.310.155 đồng. Như vậy, có cơ sở xác định bà N3 vay tiền của Ngân hàng theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 12/11/2018 với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, loại thẻ Visa, số thẻ 356481- 9821, lãi suất cho vay 2,6%/tháng (31,2%/năm), lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, mục đích tiêu dùng cá nhân.
[4].Về tính hợp pháp cuả Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/11/2018, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Các bên đều có đủ tư cách chủ thể, có đủ năng lực hành vi dân sự nên chủ thể tham gia ký kết hợp đồng là hợp pháp. Hợp đồng được lập thành văn bản các bên đều tự nguyện ký tên, đóng dấu xác nhận nên hình thức hợp đồng hợp pháp. Các đương sự thỏa thuận về toàn bộ các điều khoản trong nội dung hợp đồng, không bị lừa dối ép buộc và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định pháp luật nên có hiệu lực và buộc các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo hợp đồng.
[5]. Ngân hàng thương mại cổ phần S đã kích hoạt thẻ (Giao thẻ và P hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng cho bà N Sau khi nhận thẻ, bà N3 thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 27.411.050 đồng, đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 11.310.155 đồng. Tuy nhiên, từ ngày 22/8/2019 bà N3 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng căn cứ Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà N11 ngày 22/8/2019 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của bà N12 thời điểm này là 20.625.576 đồng sang làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn và yêu cầu bà Nthanh toán toàn bộ số tiền vốn và lãi quá hạn tính đến hết ngày 25/3/2025 là 75.377.722 đồng; trong đó: Vốn gốc: 20.625.576 đồng, lãi quá hạn: 54.752.146 đồng là phù hợp với thỏa thuận tại các Điều 2, 18, 19, 20, 22, 23, 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng mà hai bên đã ký kết, phù hợp với Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, cũng như phù hợp với với quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao. Đồng thời, số tiền gốc và lãi nêu trên Ngân hàng đã tính đúng nên được chấp nhận.
[6] Đối với yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 26 tháng 3 năm 2025 cho đến khi bà N9 hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, xét yêu cầu này là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết cũng như theo quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao nên được chấp nhận.
[7] Như đã phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S chấp nhận nên không phải chịu án phí.
Bị đơn bà Phạm Thị Y N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 3.768.886 đồng theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án;
[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
- Buộc bà Phạm Thị Yến N1 nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCS Ssố tiền vốn và lãi tính đến hết ngày 25/3/2025 là 75.377.722 đồng; trong đó: Vốn gốc: 20.625.576 đồng, lãi quá hạn: 54.752.146 đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Phạm Thị Yến N13 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/11/2018 (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/11/2018, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
Bà Phạm Thị Yến N6 chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 3.768.886 đồng.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.428.622 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000175 ngày 07 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thuý Uyên |
Bản án số 55/2025/DS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 55/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
