Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LAI VUNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/DS-ST.

Ngày: 20 - 6 - 2025.

V/v Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Danh.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Đặng Văn Hai.
  2. Ông Lê Minh Chánh.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung tham gia phiên tòa: Bà Phan Bích Liễu - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 14 tháng 02 năm 2025 và ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 257/2024/TLST-DS, ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-DS, ngày 20/01/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trương Bích N - sinh năm: 1969.
  2. Địa chỉ: 6, hẻm N, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Bị đơn:- Bà Trần Thị C - sinh năm: 1950.
  4. Địa chỉ: 1, ấp T, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

    - Người đại diện theo ủy quyền của bà C là: Bà Trần Thị Q - sinh năm: 1960.

    Địa chỉ: A, ấp T, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (Văn bản ủy quyền ngày 18/11/2024).

    - Bà Trần Thị Q - sinh năm: 1960.

    Địa chỉ: A, ấp T, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Bá C1 - sinh năm: 1992. Địa chỉ: A, ấp T, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trương Bích N trình bày:

Ngày 16/8/2022 và ngày 16/11/2022, bà N cùng với bà Q và bà C cùng thỏa thuận ký kết 02 Hợp đồng đặt cọc (không có công chứng chứng thực) để đảm bảo việc chuyển nhượng 03 thửa đất như sau:

  1. Thửa đất số 27, tờ bản đồ số 2, diện tích 5.883m², mục đích sử dụng: đất chuyên trồng lúa nước, Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số bìa: BC 700752, do UBND huyện L cấp cho hộ bà Trần Thị C ngày 31/12/2010.
  2. Thửa đất số 30, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.455m², mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm, Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số bìa: DB 863250, do UBND huyện L cấp cho hộ bà Trần Thị C ngày 20/5/2021.
  3. Thửa đất số 33, tờ bản đồ số 2, diện tích 3.622m², mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm, Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số bìa: BE 182511, do UBND huyện L cấp cho hộ ông Trần Bá C1 ngày 17/6/2011.

Tổng giá trị chuyển nhượng 03 thửa đất nêu trên hai bên thống nhất là 1.800.000.000 đồng, theo đó bà N đặt cọc cho bà Q và bà Cơ số tiền là 200.000.000 đồng. Các bên giao kết nếu bên bán đất (bên A) là bà Q và bà C đổi ý không bán đất thì phải bồi thường cho bên mua đất (bên B) là bà N gấp 03 lần số tiền đặt cọc là 600.000.000 đồng; trường hợp bên mua đất (bên B) là bà N đổi ý không mua đất thì bị mất hết số tiền đặt cọc. Thời gian hai bên xác định để ký Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại Phòng công chứng và thanh toán tiền chuyển nhượng đất là ngày 16/11/2022.

* Quá trình thực hiện Hợp đồng đặt cọc:

- Theo Hợp đồng đặt cọc ngày 16/8/2022, thì đến ngày 16/11/2022 hai bên sẽ ra Phòng Công chứng thực hiện các thủ tục sang tên quyền sử dụng đất nhưng đến ngày 16/11/2022, khi bà N liên hệ với bà Q và bà C để thực hiện theo Hợp đồng đặt cọc ngày 16/8/2022 thì bà Q và bà C nói do điều kiện trong gia đình chưa đủ người để ký Hợp đồng chuyển nhượng đất nên hẹn lại 03 tháng sau sẽ thực hiện việc chuyển nhượng đất và đề nghị nhận thêm 180.000.000 đồng tiền cọc. Qua đó bà N đồng ý giao thêm tiền đặt cọc là 180.000.000 đồng và đồng ý kéo dài thời gian 03 tháng sau sẽ thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất. Vì vậy nên hai bên cùng ký lại Hợp đồng đặt cọc ghi ngày 16/11/2022 với nội dung ghi số tiền đặt cọc trong 02 lần tổng cộng là 380.000.000 đồng và giao kết thời hạn thực hiện việc chuyển nhượng đất là 04 tháng trở lại bên mua là bà N sẽ thanh toán đủ số tiền còn lại tại Phòng công chứng, trách nhiệm của bên bán là bà Q và bà C phải giao tài sản tại Phòng công chứng tối đa là ngày 16/3/2023.

- Tuy nhiên, vào ngày 20/11/2022, chưa đến thời gian hai bên xác định để ký Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại Phòng công chứng là ngày 16/3/2023 thì bà Q yêu cầu bà N giao thêm 100.000.000 đồng để làm thủ tục giấy tờ, nhưng bà N chỉ giao thêm cho bà Q 50.000.000 đồng, không làm Biên nhận, có người chứng kiến là ông Huỳnh Văn H và tiếp tục ngày 28/02/2023 giao thêm 18.000.000 đồng không làm Biên nhận nhưng có người chứng kiến là ông Huỳnh Văn H. Tổng cộng bà N đã giao tiền cọc cho bà Q và bà C tổng cộng là 04 lần với tổng số tiền đặt cọc là 448.000.000 đồng. Đồng thời, theo thỏa thuận miệng, 02 bên bàn lại và đi đến thống nhất chung là gia hạn thêm thời gian thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng đất trong vòng 03 tháng kể từ ngày 28/02/2023 đến ngày 28/5/2023 bà N sẽ đem số tiền còn lại ra Phòng Công chứng làm thủ tục sang tên; ngược lại thì bên phía bà Q và bà C có ai chịu mua đất thì phải trả lại tiền đặt cọc cho bà N.

Trước đây, vào ngày 30/7/2024, bà N làm đơn khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Q và bà Trần Thị C cùng liên đới hoàn trả lại cho bà N số tiền đặt cọc là 380 triệu đồng và tiền tạm ứng 68 triệu đồng, tổng cộng là 448 triệu đồng. Đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại tạm tính từ ngày 16/3/2022 đến ngày 16/8/2024 là 21 tháng với số tiền là 66.234.000 đồng (số tiền đặt cọc 380 triệu đồng x 0,83%/tháng = 3.154.000 đồng/tháng x 21 tháng). Tổng cộng bà Q và bà C phải trả cho bà N số tiền đặt cọc và bồi thường thiệt hại là 514.234.000 đồng. Nay bà N thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bà Q trả lại cho bà N số tiền đặt cọc đã nhận tổng cộng là 448.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thiệt hại với số tiền là 66.234.000 đồng, không yêu cầu bà C liên đới trách nhiệm cùng với bà Q trả lại tiền cọc cho bà N.

Tại phiên tòa, bà N xác định lại yêu cầu khởi kiện là: Yêu cầu hủy 02 Hợp đồng đặt cọc ngày 16/8/2022 và Hợp đồng đặt cọc ngày 16/11/2022 vì không có giá trị pháp lý. Bà N yêu cầu bà Q trả lại cho bà N số tiền đặt cọc để chuyển nhượng QSDĐ tổng cộng là 448.000.000 đồng. Bà N không yêu cầu bà C liên đới trách nhiệm cùng với bà Q trả lại tiền cọc cho bà N, không yêu cầu bồi thường thiệt hại, không yêu cầu tính lãi, không yêu cầu gì đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Bá C1 trong vụ án này. Ngoài ra bà N không yêu cầu gì khác và cũng không có yêu cầu ai khác liên đới trách nhiệm cùng với bà Q trả lại tiền đặt cọc cho bà N.

Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn bà Trần Thị Q đồng thời cũng là người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị C trình bày:

Bà Q thừa nhận vào ngày 16/8/2022 và ngày 16/11/2022, bà Q và chị ruột là bà Trần Thị C cùng thỏa thuận và ký kết 02 Hợp đồng đặt cọc với bà Trương Bích N để đảm bảo việc chuyển nhượng 03 thửa đất số: 27, 30 và 33 cùng tờ bản đồ số 2 với giá chuyển nhượng là 1.800.000.000 đồng; đồng thời bà Q có nhận của bà N tổng cộng là 04 lần với tổng số tiền đặt cọc là 448.000.000 đồng theo như lời trình bày của bà N là đúng.

* Quá trình thực hiện Hợp đồng đặt cọc:

Trước khi làm Hợp đồng đặt cọc ngày 16/8/2022, thì giữa bà Q và bà C có thỏa thuận miệng với bà N là ngày 16/11/2022 bà N sẽ cùng với bà C và anh C1 đến Ngân hàng trả tiền, xóa thế chấp xong mới ra Công chứng làm Hợp đồng chuyển nhượng đất. Nhưng đến ngày 16/11/2022, thì bà N cho rằng không lo đủ tiền, không có tiền ứng trước cho bà Q và bà C để rút Giấy chứng nhận QSDĐ ra nên ngày 16/11/2022, hai bên không làm thủ tục chuyển nhượng QSDĐ theo như thỏa thuận ngày 16/8/2022, là lỗi của bà N. Do đó, ngày 16/11/2022, các bên tiếp tục làm Hợp đồng đặt cọc lần 02 là vào ngày 16/11/2022 và tiếp tục thỏa thuận lại là bà N đưa thêm cho bà Q số tiền đặt cọc là 180 triệu đồng, tổng cộng hai lần đặt cọc là 380 triệu đồng và gia hạn thêm thời hạn các bên thực hiện hợp đồng tối đa là 04 tháng, tức là đến ngày 16/3/2023.

Đến ngày hẹn là ngày 16/3/2023, bà Q, bà C và anh C1 yêu cầu bà N đưa tiền ứng trả nợ Ngân hàng, lấy bản gốc Giấy chứng nhận QSDĐ để làm thủ tục sang tên cho bà N thì bà N vẫn không có tiền ứng cho bà Q để trả nợ cho Ngân hàng mà chỉ đưa thêm cho bà Q 50 triệu đồng để đóng lãi cho Ngân hàng như đã hứa. Sau đó bà N có đưa cho bà Q nhận thêm 18 triệu đồng. Tổng số tiền bà Q đã nhận của bà N là 04 lần với số tiền là: 448 triệu đồng.

Do lỗi của bà N không có tiền ứng cho bà Q để trả nợ cho Ngân hàng, bà N đã vi phạm hợp đồng lần thứ 02 nên hai bên tiếp tục thỏa thuận miệng nếu từ ngày 16/3/2023 đến tháng 5/2023 nếu bà Q, bà C bán được đất thì cho cọc lại bà N. Nếu bà N bán được 03 thửa đất trên thì qua Ngân hàng trả nợ cùng hộ bà C, hộ anh C1 để lấy Giấy chứng nhận QSDĐ và ra Công chứng làm thủ tục sang tên cho bà N. Từ tháng 5/2023 đến nay thì bà N không thực hiện theo đúng như thỏa thuận miệng nên xem như vi phạm hợp đồng.

Bà Q thừa nhận toàn bộ số tiền nhận cọc của bà N là do một mình bà Q nhận và sử dụng, bà C không có sử dụng số tiền này, bà Cơ C2 đứng ra ký tên thủ tục giấy tờ do hộ bà C đứng tên Giấy chứng nhận QSDĐ. Gia đình bà đã trả tiền ngân hàng xong, không còn thế chấp, nhưng không đồng ý trả lại tiền cọc cho bà N. Lý do là bà N không có tiền để nhận chuyển nhượng đất theo thỏa thuận, nên không tiến hành ký hợp đồng được, bà N đã nhiều lần vi phạm hợp đồng nên bà Q không đồng ý trả lại số tiền đặt cọc đã nhận cho bà N và cũng không đồng ý tiếp tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 03 thửa đất trên cho bà N. Hiện cả 03 bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ bà Q đang quản lý.

Ngoài ra, bà Q và bà C yêu cầu hủy 02 Hợp đồng đặt cọc ngày 16/8/2022 và ngày 16/11/2022 vì không ra công chứng, chứng thực, không có giá trị pháp lý. Ngoài ra, bà Q và bà C không có yêu cầu phản tố và cũng không có ý kiến trình bày, yêu cầu gì khác.

Quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Bá C1 có văn bản ý kiến trình bày: Theo tờ tự khai ghi ngày 02/12/2024, anh C1 là con ruột của bà Trần Thị Q. Anh C1 thống nhất toàn bộ ý kiến trình bày và yêu cầu của bà Q. Mọi quyền quyết định của bà Q là quyết định của anh C1. Anh C1 không có tranh chấp hay yêu cầu gì trong vụ án này và có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ kiện cho đến khi xét xử sơ thẩm và phúc thẩm.

* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

  • - Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các bên đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Đại diện Viện kiểm sát thống nhất với trình tự thủ tục tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Bá C1.
  • - Về nội dung: Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
    • + Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trương Bích N.
    • + Hủy 02 Hợp đồng đặt cọc (không có công chứng chứng thực) ngày 16/8/2022 và ngày 16/11/2022 giữa bà N với bà Q và bà C.
    • + Buộc bị đơn bà Trần Thị Q trả lại cho bà Trương Bích N số tiền đặt cọc tổng cộng là: 448.000.000 đồng.
    • + Tại phiên tòa, bà N không yêu cầu bà C liên đới trách nhiệm cùng với bà Q trả lại tiền cọc cho bà N; không yêu cầu bồi thường thiệt hại; không yêu cầu tính lãi cũng không yêu cầu gì đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Bá C1 trong vụ án này nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
    • - Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng; Hội đồng xét xử xét thấy:

1.1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Bích N khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Trần Thị C trả số tiền đặt cọc tổng cộng là 448 triệu đồng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự phải giải quyết là “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc” theo quy định tại Điều 328 của Bộ luật dân sự.

1.2. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

1.3. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Bá C1 có đơn xin vắng mặt; căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Bá C1 theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung vụ án:

2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Bích N yêu cầu bị đơn bà Trần Thị Q trả lại cho bà N số tiền đặt cọc đã nhận tổng cộng là 448.000.000 đồng và hủy 02 Hợp đồng đặt cọc ngày 16/8/2022 và ngày 16/11/2022. Bà N không yêu cầu bà C liên đới trách nhiệm cùng với bà Q trả lại tiền cọc cho bà N; không yêu cầu bồi thường thiệt hại; không yêu cầu tính lãi cũng không yêu cầu gì đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Bá C1 trong vụ án này.

Hội đồng xét xử xét thấy:

2.1. Về số tiền đặt cọc: Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà N xác định bà N đã đặt cọc cho bà Q nhận tổng cộng 04 lần tiền cọc với số tiền là 448 triệu đồng. Bị đơn bà Q xác định có nhận của bà N tổng cộng 04 lần tiền cọc với số tiền 448 triệu đồng nên đây xác định là chứng cứ không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

2.2. Về Hợp đồng đặt cọc: Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa cả nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất thừa nhận 02 Hợp đồng đặt cọc ngày 16/8/2022 và ngày 16/11/2022 đều không có công chứng chứng thực. Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đều thống nhất yêu cầu hủy 02 Hợp đồng đặt cọc mà bà N với bà Q và bà C đã ký kết ngày 16/8/2022 và ngày 16/11/2022 và không tiếp tục thỏa thuận việc chuyển nhượng. Nhưng phía bị đơn không đồng ý trả lại tiền cọc cho bà N.

Hội đồng xét xử thống nhất ghi nhận việc thỏa thuận hủy 02 Hợp đồng đặt cọc giữa bà N với bà Q và bà C. Tuy nhiên, bà Q không đồng ý trả lại 448 triệu cho bà N, Hội đồng xét xử nhận thấy: Việc bà Q với bà C thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng QSDĐ tại thời điểm đất đang thế chấp cho Ngân hàng là vi phạm khoản 8 Điều 320 của Bộ luật dân sự về nghĩa vụ của bên thế chấp; đồng thời khi thực hiện Hợp đồng đặt cọc, phía bà Q cho rằng bà N không thực hiện đúng thỏa thuận việc thanh toán tiền, dẫn đến việc 02 bên không ký kết được Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, thì lẽ ra bà Q phải dừng việc nhận tiền từ bà N và chấm dứt thỏa thuận đặt cọc, không trả lại tiền cọc cho bà N, do bà N là bên nhận chuyển nhượng (bên mua) đã vi phạm thỏa thuận; nhưng bà Q lại tiếp tục nhận tiền của bà N từ số tiền đặt cọc ban đầu là 200.000.000 đồng lên 448.000.000 đồng, số tiền này trở thành số tiền nhận chuyển nhượng đất, nhưng hiện nay bà Q cũng không đồng ý tiếp tục chuyển nhượng đất cho bà N. Do đó, việc bà Q không đồng ý trả lại số tiền 448.000.000 đồng cho bà N là không có cơ sở để chấp nhận, nên buộc bà Q trả lại cho bà N 448.000.000 đồng.

2.3. Các đương sự trong vụ án không tranh chấp, không yêu cầu gì đối với các thửa đất số 27, 30 và 33, cùng tờ bản đồ số 2, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bà N không yêu cầu bà C liên đới trách nhiệm cùng với bà Q trả lại tiền cọc cho bà N; không yêu cầu bồi thường thiệt hại; không yêu cầu tính lãi cũng không yêu cầu gì đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Bá C1 trong vụ án này nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn bà N được chấp nhận nên bị đơn bà Q phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 95, Điều 147, Điều 228, Điều 264, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Căn cứ vào Điều 320, 328, Điều 357, Điều 423 và Điều 427 của Bộ luật dân sự năm 2015.
  • - Căn cứ vào Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Bích N.
  2. Hủy 02 (hai) Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mà bà Trương Bích N với bà Trần Thị Q và bà Trần Thị C đã ký kết ngày 16/8/2022 và ngày 16/11/2022 đối với ba thửa đất số 27, 30 và 33 cùng tờ bản đồ số 2, địa chỉ thửa đất: ấp T, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (hiện bà Q đang quản lý, sử dụng).
  3. - Buộc bà Trần Thị Q trả cho bà Trương Bích N số tiền đặt cọc tổng cộng là 448.000.000 (Bốn trăm, bốn mươi tám triệu) đồng.

    - Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Trương Bích N mà bà Trần Thị Q chưa thi hành xong số tiền trên thì hàng tháng bà Q còn phải trả lãi suất phát sinh do chậm trả tiền đối với số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Bà Trần Thị Q nộp 21.920.000 (Hai mươi mốt triệu, chín trăm hai mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Bà Trương Bích N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 12.285.000 (Mười hai triệu, hai trăm tám mươi lăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số: 0014151, ngày 25/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo luật định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh ĐT;
  • - VKSND huyện Lai Vung;
  • - Chi cục THADS huyện Lai Vung;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

Trần Quốc Danh

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Hai - Lê Minh Chánh

Trần Quốc Danh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 55/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger