Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/DS-ST

Ngày: 18/6/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng cầm cố

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Cẩm Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thiện Đào Duyên.

Ông Lê Nguyễn Minh Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thuỳ Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 16/2025/TLST-DS ngày 13/01/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-DS ngày 13/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2025/QĐST-DS ngày 29/5/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S Có Ngay.

Địa chỉ: Số A, N, phường B, thành phố V, tỉnh N.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Kanokwatpaisal N, chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện hợp pháp của ông Kanokwatpaisal N là anh Trần Phước T, sinh năm: 1994; Địa chỉ liên hệ: Số C, đường C, phường A, thành phố C, tỉnh Đ. Là đại diện theo uỷ quyền, theo văn bản ủy quyền ngày 15/6/2024.

Bị đơn: Chị Nguyễn Hoàng Phi Y, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Số B, khóm H, phường B, thành phố S, tỉnh Đ.

Anh T có đơn xin vắng mặt, chị Y vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty cổ phần S Có Ngay (Viết tắc là Công ty) anh Trần Phước T trình bày:

Ngày 13/01/2021, chị Nguyễn Hoàng Phi Y có ký Hợp đồng cầm cố số SDM210101010NA15X và Giấy mượn xe để thế chấp 01 xe mô tô BKS: 66S1-192.82 do Công an thành phố S cấp Giấy chứng nhận đăng ký ngày 18/01/2019; Nhãn hiệu: SYM; Số loại: Attila 125cc; Số khung: 12UFMD005280; Số máy: MVJ3BD005280 với Công ty để nhận 8.500.000đ, thời gian cầm cố 12 tháng, lãi 1,1%/tháng, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, phí quản lý hồ sơ và hao mòn xe 4%/tháng.

Ngày 9/12/2023 chị Y thanh toán gốc, lãi, phí 973.000đ đến nay chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên Công ty yêu cầu chị Y trả các khoản là 23.400.246 đồng, trong đó: Gốc 7.969.068đ; Lãi trong hạn 2.986.275đ; Lãi quá hạn 1.493.138đ; Phí hao mòn tài sản và quản lý hồ sơ 10.951.765đ.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện không yêu cầu các khoản như sau: Tính lãi từ ngày 11/04/2025 theo Hợp đồng cầm cố đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ; Các loại phí hao mòn tài sản và quản lý hồ sơ 10.951.765đ và yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi khoản nợ là 01 xe mô tô BKS: 66S1-192.82. Ngoài ra, không yêu cầu gì khác.

Công ty yêu cầu chị Y có nghĩa vụ trả nợ gốc 7.969.068đ và lãi đến ngày 10/4/2025 là 6.136.182đ, tổng cộng là 14.105.250đ.

Đối với bị đơn chị Nguyễn Hoàng Phi Y:

Quá trình giải quyết vụ án chị Y vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến cũng như không cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Phát biểu của Đại diện Viện Kiểm sát:

Về tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, cũng như của người tham gia tố tụng. Đối với bị đơn chị Y không thực hiện đúng quy định pháp luật, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án là đã vi phạm các Điều 70, 72, 91 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát không phát biểu về đường lối giải quyết vụ án. Tuy nhiên Kiểm sát viên có ý kiến: Qua xem xét hợp đồng cầm cố ngày 21/01/2021 xét thấy việc thỏa thuận về lãi suất cẩm cố và các loại phí trong hợp đồng vượt quá mức lãi suất nhà nước quy định tối đa 20%/năm (61,2%/năm). Tại thời điểm ký kết hợp đồng cầm cố Công ty lập thủ tục cho bị đơn mượn lại tài sản cầm cố sử dụng và tính phí hao mòn tài sản, phí quản lý hồ sơ 4%/tháng là chưa đúng quy định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tập hợp vụ kiện này và các vụ kiện khác cùng loại của Công ty hiện đang khởi kiện tại Tòa án để trao đổi với Cơ quan điều tra xem xét, làm rõ các hợp đồng cầm cố này có phải là hợp đồng giả cách để che giấu một giao dịch vay tài sản với lãi suất cao, nhằm xác định có dấu hiệu tội phạm hình sự hay không để có hướng xử lý đúng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của Công ty và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về “Hợp đồng cầm cố”. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố S nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố S tỉnh Đ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, đối với bị đơn chị Nguyễn Hoàng Phi Y đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về Hợp đồng cầm cố số SDM210101010NA15X được Công ty và chị Y ký kết ngày 13/01/2021, thể hiện chị Y có cầm cố tài sản là 01 xe mô tô BKS: 66S1-192.82 do Công an thành phố S cấp Giấy chứng nhận đăng ký ngày 18/01/2019; Nhãn hiệu: SYM; Số loại: Attila 125cc; Số khung: 12UFMD005280; Số máy: MVJ3BD005280 với số tiền 8.500.000đ, thời gian cầm cố 12 tháng, lãi 1,1%/tháng, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, phí quản lý hồ sơ và hao mòn xe 4%/tháng. Hàng tháng chị Y trả cho Công ty số tiền 964.432 đồng vào ngày 13 hàng tháng cho đến khi kết thúc hợp đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy Hợp đồng cầm cố tài sản do Công ty và chị Y tự nguyện thỏa thuận, xác lập nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 117, 119, 309, 310 của Bộ luật dân sự nên có hiệu lực, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty thực hiện đúng nghĩa vụ là giao số tiền 8.500.000đ cho chị Y, còn chị Y không thực hiện đúng thoả thuận, từ lúc nhận tiền đến nay đã trả cho Công ty I, số còn lại chưa trả là vi phạm nghĩa vụ trả nợ, lãi theo hợp đồng đã ký kết.

Xét Công ty thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu chị Y trả nợ gốc 7.969.068đ và lãi đến ngày 10/4/2025 là 6.136.182đ, tổng cộng là 14.105.250đ; Không yêu cầu lãi phát sinh sau ngày 10/4/2025 và các loại phí khác theo thỏa thuận của Hợp đồng cầm cố (phí hao mòn tài sản; phí quản lý hồ sơ); Không yêu cầu xử lý tài sản cầm cố đối với xe máy nêu trên; Tự nguyện trả lại Giấy chứng nhận đăng ký số: 032571 do Công an thành phố S cấp ngày 18/01/2019 cho chị Y (Công ty đang giữ) là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về tài sản cầm cố: Đối với 01 xe mô tô BKS: 66S1-192.82; Nhãn hiệu: SYM. Số loại: Attila 125cc; Số khung: 12UFMD005280; Số máy: MVJ3BD005280 do chị Y đứng tên, Công ty đã giao lại cho chị Y quản lý, sử dụng theo Giấy mượn xe để thế chấp ngày 13/01/2021. Nay Công ty không yêu cầu xử lý tài sản cầm cố đối với xe mô tô này, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 032571 do Công an thành phố S cấp ngày 18/01/2019 cho chị Y, Công ty tự nguyện giao trả cho chị Y nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.

[2.3] Về Hợp đồng mượn xe theo Giấy mượn xe ngày 13/01/2021, Công ty không tranh chấp, cũng không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về phía bị đơn chị Y đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các thông báo, các quyết định, giấy triệu tập nhưng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Không cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, cũng như Tòa án thu thập có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

[3] Xét việc đại diện Viện kiểm sát không phát biểu về đường lối giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án trao đổi với Cơ quan điều tra xem xét, làm rõ các hợp đồng này có dấu hiệu tội phạm hình sự hay không là chưa phù hợp, bởi lẽ: Công ty và chị Y ký Hợp đồng cầm cố, Giấy mượn xe là sự tự nguyện thoả thuận giữa các bên, không bị ép buộc hay cưỡng chế, theo đó chị Y đã trả cho Công ty 973.000đ, số còn lại đến nay chưa trả. Mặt khác, Công ty yêu cầu chị Y trả gốc và lãi, không yêu cầu trả lãi sau ngày 10/4/2025; Các loại phí khác theo thỏa thuận của Hợp đồng cầm cố (phí hao mòn tài sản; phí quản lý hồ sơ); Không yêu cầu xử lý tài sản cầm cố và tự nguyện giao trả bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe cho chị Y là phù hợp quy định của pháp luật nên không có dấu hiệu tội phạm hình sự.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 227, 228, 264, 271, 273, 278 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 117, 119, 280, 309, 310, 357, 468 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S Có Ngay.
  2. Buộc chị Nguyễn Hoàng Phi Y có nghĩa vụ trả cho Công ty Cổ phần S Có Ngay số tiền 14.105.250đ (mười bốn triệu một trăm lẽ năm nghìn hai trăm năm mươi đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong thì hàng tháng còn phải chịu mức lãi suất theo quy định Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, đến khi thi hành án xong.

  1. Công ty Cổ phần S có nghĩa vụ trả lại bản gốc 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký số: 032571 do Công an thành phố S cấp ngày 18/01/2019 cho chị Nguyễn Hoàng Phi Y.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Chị Nguyễn Hoàng Phi Y phải chịu 705.000đ (bảy trăm lẽ năm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả cho Công ty Cổ phần S Có Ngay 585.000đ (năm trăm tám mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0008089 ngày 13/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S, tỉnh Đ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND TP Sa Đéc;
  • - Chi cục THADS TP Sa Đéc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Cẩm H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/DS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng cầm cố

  • Số bản án: 55/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger