TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2025/DS-ST Ngày: 09/6/2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Ngọc Phương;
Ông Lê Văn Công.
- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Năm – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 549/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 (gọi tắt là ngân hàng); địa chỉ trụ sở chính: Số A, T, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Tiêu Ngọc Q, sinh năm: 1971; nơi thường trú: Số B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (giấy ủy quyền ngày 12/3/2024), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- - Bị đơn: Ông Trần Minh C, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1982; cùng nơi thường trú: Số E, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng thực hiện cấp tín dụng cho ông C và bà B theo Hợp đồng cho vay số 21.038/2021-HĐCV/NHCT901 ngày 12/7/2021 số tiền 4.000.000.000 đồng; mục đích vay vốn: Thanh toán chi phí nhận quyền sử dụng đất ở và nhà ở tại thửa đất số 332, tờ bản đồ số 161, địa chỉ: Khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương phục vụ nhu cầu đời sống; thời hạn cho vay: 192 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân khoản nợ đầu tiên; lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay điều chỉnh 1 tháng một lần; số tiền đã giải ngân: 4.000.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ ngày 13/7/2021. Tính đến hết ngày 08/6/2025 ông C và bà B đã thanh toán cho ngân hàng là: 1.240.403.597 đồng, trong đó tiền gốc là 500.016.000 đồng, tiền lãi là 740.387.597 đồng. Dư nợ vay đến hết ngày 08/6/2025 là: 4.419.826.514 đồng (bốn tỷ bốn trăm mười chín triệu tám trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm mười bốn đồng). Trong đó nợ gốc: 3.499.984.000 đồng, nợ lãi: là 919.842.514 đồng (trong đó: lãi cộng dồn: 890.116.807 đồng; lãi phạt cộng dồn: 29.725.707 đồng). Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông C và bà B thanh toán số tiền nói trên và thanh toán các khoản tiền lãi kể từ ngày 09/6/2025 cho đến khi thanh toán toàn bộ khoản vay cho ngân hàng. Trường hợp ông C và bà Ba K thanh toán thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp đối với quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, thửa đất số 332, tờ bản đồ 161, tọa lạc tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Bị đơn ông Trần Minh C và bà Nguyễn Thị B vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của Tòa án.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật: Xét đơn khởi kiện của Ngân hàng, do đó Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông C và bà B có đăng ký tạm trú tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3]. Về sự tham gia phiên tòa của các đương sự: Bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1]. Ngày 12/7/2021, giữa Ngân hàng và ông B và bà B thỏa thuận ký Hợp đồng cho vay số 21.038/2021-HĐCV/NHCT901 và Giấy nhận nợ ngày 13/7/2021 số tiền vay 4.000.000.000 đồng. Quá trình sử dụng ông C và bà Ba K thanh toán hết số nợ và lãi đúng hạn là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận của hợp đồng cho vay gây thiệt hại cho Ngân hàng. Bị đơn ông C và bà B vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng. Theo kết quả xác minh tại Công an phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương: Ông C và bà B hiện có đăng ký thường trú và sinh sống tại địa chỉ số E, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cũng như niêm yết các văn bản tố tụng cho ông C và bà B theo hình thức niêm yết công khai tại nơi ông C và bà B có đăng ký thường trú, Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương và Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương nhưng ông C và bà Ba K gửi văn bản trình bày ý kiến về việc Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản của Ngân hàng và cũng không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử cũng như cố tình vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án. Như vậy, ông C và bà B đã từ bỏ quyền được trình bày ý kiến của mình theo quy định pháp luật và ông C và bà Ba P chịu hậu quả về việc vắng mặt của mình.
[2.2]. Do đó, có căn cứ buộc ông C và bà B có nghĩa vụ phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số nợ còn thiếu tính đến ngày 08/6/2025. Cụ thể : Yêu cầu ông C và bà B có trách nhiệm liên đới thanh toán tiền vay đối với Hợp đồng cho vay số 21.038/2021-HĐCV/NHCT901 cho Ngân hàng gồm: tổng số tiền là 4.419.826.514 đồng trong đó nợ gốc là 3.499.984.000 đồng, tiền lãi là 919.842.514 đồng (trong đó tiền lãi cộng dồn là 890.116.807 đồng, lãi phạt cộng dồn là 29.725.707 đồng) và khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay nói trên cho đến khi thanh toán xong hết nợ.
[2.3]. Về số tiền lãi vay mà nguyên đơn yêu cầu là đúng theo thỏa thuận của hai bên tại hợp đồng cho vay và giấy nhận nợ và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 3 và Điều 91 Luật các tổ chức Tín dụng năm 2010 nên yêu cầu của nguyên đơn về tiền nợ tính đến ngày xét xử và toàn bộ tiền lãi phát sinh tiếp tục tính đến khi thanh toán xong nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là có cơ sở chấp nhận.
[2.4]. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3] Về quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 244; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Điều 463, 464 và Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015;
Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức Tín dụng năm 2010;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Trần Minh C và bà Nguyễn Thị B.
- Buộc ông Trần Minh C và bà Nguyễn Thị B có trách nhiệm liên đới thanh toán tiền vay đối với Hợp đồng cho vay số 21.038/2021-HĐCV/NHCT901 ngày 12/7/2021 cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 gồm: tổng số tiền là 4.419.826.514 đồng trong đó nợ gốc là 3.499.984.000 đồng, tiền lãi là 919.842.514 đồng (trong đó tiền lãi cộng dồn là 890.116.807 đồng, lãi phạt cộng dồn là 29.725.707 đồng) và khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 21.038/2021-HĐCV/NHCT901 ngày 12/7/2021 kể từ ngày 09/6/2025 cho đến khi thanh toán xong hết nợ.
2.2 Về xử lý tài sản thế chấp:
Trường hợp đến hạn thanh toán mà vợ chồng ông Trần Minh C và bà Nguyễn Thị Ba K thanh toán hết số tiền nợ trên cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 21.049/2021/HĐBĐ/NHCT901 ngày 18/10/2021 gồm tài sản sau: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 332, tờ bản đồ số: 161, địa chỉ: khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, diện tích 496 m² (theo sổ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: DB 774542, số vào sổ cấp GCN: CS 18585 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 13/10/2021 cho ông Trần Minh C và bà Nguyễn Thị B.
Trường hợp số tiền xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Trần Minh C và bà Nguyễn Thị B tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C1, thì ông Trần Minh C và bà Nguyễn Thị B có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả hết số nợ còn lại cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản vay nói trên cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1.
2.3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bị đơn ông Trần Minh C và bà Nguyễn Thị Ba P liên đới nộp số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1.
- Về án phí sơ thẩm:
Ông Trần Minh C và bà Nguyễn Thị Ba P liên đới chịu 112.419.827 đồng (một trăm mười hai triệu bốn trăm mười chín nghìn tám trăm hai mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 số tiền 55.367.466 đồng (năm mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002837 ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Các đương sự vắng mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 55/2025/DS-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 55/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGÂN HÀNG V- TRẦN MINH C
