Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 55/2025/DS-ST

Ngày 06 tháng 6 năm 2025

Về việc “Tranh chấp đòi tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Bình

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Đinh Quang Tuyến
  2. Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Cẩm Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên toà: Ông Trần Quốc Toản - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 200/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp đòi tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2025/QĐXXST- DS ngày 13 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lương K (T), sinh năm 1977.

Địa chỉ: Tổ D, khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Bà Lê Thị B (B1), sinh năm 1971.

Địa chỉ: Tổ A, khu phố B, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị Kim M, sinh năm 1986 (vợ ông K).

Địa chỉ : Tổ D, khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

(Tất cả các đương sự đều có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lương K trình bày:

Ngày 13/01/2013, ông có thuê của của bà Lê Thị B một lô đất có diện tích 200m², toạ lạc tại khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (thuộc B), để cất nhà tạm kinh doanh giữ xe. Thời hạn thuê là 03 năm kể từ ngày 13/01/2013 đến ngày 13/01/2016, với giá thuê 02 triệu đồng/năm. Việc thuê đất hai bên có lập bản hợp đồng “Thuê đất” viết tay, ông đã trả đủ tiền thuê cho bà B 6.000.000 đồng vào ngày 13/01/2013.

Năm 2014, có Quyết định của Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang, thu hồi làm dự án. Trong năm 2014, thực hiện việc giải toả, đền bù, nhưng thời gian thuê đất chưa hết hợp đồng. Từ đó, ông có thoả thuận miệng với bà B là khi Nhà nước có hỗ trợ, đền bù thì bà B nhận bồi thường đất, còn tài sản trên đất là do ông xây dựng để kinh doanh thì thuộc của ông, khi Nhà nước bồi thường thì ông nhận nên ông và bà B chấp hành giao nhà cho dự án.

Ngày 28/12/2021, có Quyết định của Ủy ban nhân dân huyện P về việc bổ sung bồi thường vật kiến trúc, bà B là chủ đất đại diện nhận tiền đền bù phần xây dựng tổng cộng là 96.396.100 đồng, có 126,94m², trong đó 90,72m², với giá 969.959 đồng/m2, được 87.994.700 đồng; móng đá học 4,22m², với giá 887.166 đồng/m² được 3.743.800 đồng; hàng rào 32m, với giá 145.550 đồng/m được 4.657.600 đồng. Bà B nhận số tiền trên không giao cho ông. Ông có gặp bà B đòi nhưng không trả.

Nay ông khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc bà B phải trả cho ông số tiền đền bù phần xây dựng nhà là 96.396.100 đồng.

- Quá trình giải quyết vụ án bị đơn là bà Lê Thị B trình bày:

Năm 2013, bà thừa nhận có cho ông Lương K thuê một thửa đất tại khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (thuộc bãi K), thời hạn thuê là 03 năm kể từ ngày 13/01/2013 đến ngày 13/01/2016, với giá 6.000.000 đồng/03 năm.

Nguồn gốc đất bà cho thuê là do bà nhận chuyển nhượng của bà T2 (họ tên đầy đủ bà không nhớ) vào ngày 25/5/2004, khi nhận chuyển nhượng thì trên đất có một căn nhà mái lợp tol, vách lá, nền xi măng nên giữa bà với bà T2 lập hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất. Do ông K có căn nhà cặp bên để giữ xe, hơi chặt nên thấy căn nhà của bà bỏ trống nên ông K mới hỏi thuê để làm bãi giữ xe, khi cho ông K thuê thì trên đất của bà có sẵn căn nhà. Khi ông K thuê đất thì ông K lấy căn nhà có sẵn của bà, ông K tháo bỏ vách lá hai bên, còn phía trên lợp tol và nền xi măng thì ông K1 giữ nguyên và sử dụng làm chỗ giữ xe, ngoài ra ông K không có xây dựng gì thêm.

Năm 2017, đất của bà vào quy hoạch và đến năm 2018, thì bị thu hồi. Khi bị thu hồi thì không được bồi thường, chỉ hỗ trợ đất và nhà. Do đất tại bãi Khem bà có 02 thửa và 02 căn nhà. Trong đó, một thửa có diện tích ngang 8m có căn nhà tên đất và một thửa diện tích ngang 10m trên đất có căn nhà chiếm 160m², còn lại đất trống 40m², phần đất này bà cho ông K thuê. Khi bị Nhà nước thu hồi chỉ hỗ trợ cho bà 02 thửa và 02 căn nhà là 30.000.000 đồng. Khi bà làm đơn khiếu nai thì được bồi thường bổ sung số tiền 96.363.100 đồng. Như vậy, bà được bồi thường 02 thửa đất và 02 căn nhà tồng cộng là 126.363.100 đồng.

Ngày 13/01/2016, bà có hỏi ông K có thuê nữa không, thì ông K trả lời không thuê nữa nên hợp đồng đã kết thúc từ ngày 13/01/2016 nên bà cũng không nói gì và cũng không có thoả thuận gì. Bà xác định ông K không có xây dựng gì trên đất thuê của bà mà trên đất của bà đã có sẵn căn nhà ông K lấy sử dụng giữ xe chứ không có xây dựng gì thêm. Khi Nhà nước thu hồi thì giữa bà với ông K không có bất kỳ thoả thuận nào, vì ông K không có xây dựng và hợp đồng cũng đã hết thời hạn và đất cũng bỏ trống, ông K không thuê nữa, hợp đồng kết thúc đã lâu.

Nay bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông K, vì bà với ông K không có thoả thuận gì về việc giao trả số tiền bồi thường. Đồng thời ông K không có xây dựng công trình gì trên đất nên yêu cầu của ông K không có căn cứ, bà không có yêu cầu phản tố.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Kim M trình bày:

Bà thống nhất theo ý kiến của ông Lương K (chồng bà).

- Tại phiên tòa:

Nguyên đơn: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn: Không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc phát biểu:

Về thủ tục tố tụng:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến khi trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện và chấp hành đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê K2.

Về án phí sơ thẩm: Buộc ông Lương K phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Lương K yêu cầu bà B trả số tiền đền bù phần xây dựng nhà trên đất nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Tranh chấp đòi tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn cư trú tại khu phố B, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

[2] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn ông Lương K khởi kiện yêu cầu bà B phải trả cho ông số tiền đền bù vật kiến trúc trên đất là 96.396.100 đồng. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và lời trình bày của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ngày 13/01/2013, ông K có ký hợp đồng thuê QSD đất của bà B để làm bãi giữ xe, đất tại B, A, thời hạn thuê là 03 năm, từ ngày 13/01/2013 đến ngày 13/01/2016, giá thuê là 2.000.000 đồng/1 năm, 03 năm là 6.000.000 đồng. Ông K đã thanh toán một lần số tiền thuê đất trong 03 năm cho bà B. Điều này được bà B xác nhận (bút lục 05).

Năm 2014, đất bị thu hồi làm dự án. Ông K cho rằng giữa ông K với bà B có thỏa thuận miệng là đất thì của bà B, nhà nước đền bù thì bà nhận, còn tài sản trên đất do ông K xây dựng, nhà nước đền bù thì ông K nhận. Tuy nhiên, ông K không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền sở hữu đối với tài sản trên đất được bồi thường là của ông tạo lập như: Giấy phép xây dựng, hóa đơn vật liệu xây dựng, hợp đồng xây dựng, biên bản kiểm kê của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ghi nhận tài sản do ông K tạo lập...

Về lời khai của những người làm chứng gồm: Ông Lương M1 (em ruột ông K), ông Phạm Văn S, ông Bùi Văn N và bà Dương Thị T1. Toà án ghi nhận lời khai của các ông bà theo yêu cầu của ông K. Các lời khai đều xác nhận vào năm 2013, ông K có thuê đất của bà B và ông K có mượn đến làm nhà giùm cho ông K, làm nhà cột bằng gỗ, nền xi măng, mái lợp tol, không có vách để ông K kinh doanh giữ xe.

Tại hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa bà Nguyễn Thị T2 và bà Lê Thị B ngày 25/5/2004 thể hiện bà B có nhận chuyển nhượng của bà T2 diện tích ngang 10m, dài 20m, trên đất có căn nhà sườn cây, lợp tol, xây móng, trán nền (bút lục 36). Mặt khác, khi hồ sơ bồi thường thể hiện tại Quyết định số 6491/QĐ-UBND ngày 28/12/2021 về việc bổ sung bồi thường vật kiến trúc cho bà Lê Thị B là người đứng tên nhận toàn bộ tiền hỗ trợ vật kiến trúc.

Như vậy, lời khai của những người làm chứng mâu thuẫn với chứng cứ bà B cung cấp là hợp đồng chuyển nhượng giữa bà B và bà T2. Đồng thời, bà B không có thừa nhận việc bà có thỏa thuận miệng với ông K về nội dung như ông K trình bày. Bên cạnh đó, trong suốt quá trình thụ lý đến khi xét xử ông K cũng không có tài liệu, chứng cứ gì về việc bà B đồng ý cho ông K nhận tiền bồi thường phần công trình ông K xây dựng. Hơn nữa nhà đất đã bồi thường xong ông K không có tranh chấp gì cho đến năm 2024 ông K mới khởi kiện. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Lương K về việc buộc bà Lê Thị B trả số tiền đền bù phần xây dựng nhà mà bà B đã nhận là 96.396.100 đồng là không có căn cứ chấp nhận theo Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K về việc buộc bà B phải hoàn trả số tiền 96.396.100 đồng.

[4] Về án phí: Nguyên đơn yêu cầu không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 96.396.100 đồng x 5% = 4.819.805 đồng, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.409.902 đồng theo biên lai thu số 0006779, ngày 21/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Như vậy ông K còn phải tiếp tục nộp thêm số tiền 2.409.903 đồng.

Bị đơn bà B không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương K về việc buộc bị đơn bà Lê Thị B hoàn trả số tiền đền bù phần xây dựng nhà trên đất là 96.396.100 đồng (Chín mươi sáu triệu ba trăm chín mươi chín mươi sáu nghìn một trăm đồng).
  2. Về án phí sơ thẩm: Buộc nguyên đơn ông Lương K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.819.805 đồng, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.409.902 đồng theo biên lai thu số 0006779, ngày 21/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Như vậy ông K còn phải tiếp tục nộp thêm số tiền 2.409.903 đồng (Hai triệu bốn trăm lẽ chín nghìn chín trăm lẽ ba đồng).

Bị đơn bà Lê Thị B không phải chịu án phí.

  1. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSNDTP Phú Quốc;
  • - CC.THATP Phú Quốc;
  • - Các đương sự
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Văn Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/DS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp đòi tài sản

  • Số bản án: 55/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Kỳ - Lê Thị Bửu tranh chấp đòi tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger