|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2025/DS-PT Ngày: 23 - 5 - 2025 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Thái Thị Hồng Vân. |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Quang Trung |
| Ông Nguyễn Anh Sơn | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Lý Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên. |
Trong các ngày 25 tháng 4 và 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự số 105/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024, về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số số 11/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024, của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 42/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1967 và bà Đặng Thị S1, sinh năm 1977; địa chỉ: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Nhà số H, ngõ I, khối A, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Từ Thị Thanh N, sinh năm 1996; Công ty L4, Đoàn Luật sư tỉnh N. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1945; Địa chỉ: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị P, sinh năm 1946; Địa chỉ: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền của bà P: Bà Hồ Thị Lan H1, ông Nguyễn Vinh D, bà Phan Thị Thu T, ông Nguyễn Hoàng L1; Đơn vị công tác: Văn phòng L5, Đoàn Luật sư tỉnh N. Bà H1, ông L1 vắng mặt; Ông D bà T có mặt.
2
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn S.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn S và bà Đặng Thị S1 và người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị Hoài T1 thống nhất trình bày:
Thửa đất số 1509, tờ bản đồ 05, diện tích 1.011 m² (Theo bản đồ 299) nay là thửa đất số 173, tờ bản đồ 38, diện tích 1.361,7 m² tại xóm Đ nay là xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An được UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất số AB 273181 ngày 18/5/2007, mang tên Nguyễn Văn S - Đặng Thị S1, tại GCNQSD đất cấp ghi thành thửa đất số 1504, thực tế gia đình sử dụng thửa đất 1509. Thửa đất 1509 có nguồn gốc của cha mẹ ông Lê Cương P1 - bà Đặng Thị L2, sử dụng trước năm 1980, sau đó ông P1 và bà L2 tiếp tục sử dụng. Năm 1996, UBND huyện N cấp GCNQSD đất cho vợ chồng ông P1 bà L2. Năm 1997, ông P1 và bà L2 bán lại cho ông Nguyễn Văn S với giá 17.000.000 đồng, việc mua bán bằng miệng, ông bà giữ bản gốc GCNQSD đất, vì nghĩ chưa cần thiết nên không làm thủ tục cấp đổi. Năm 2001, ông S kết hôn với bà Đặng Thị S1 nên hai vợ chồng ra ở riêng trên thửa đất 1509 từ đó cho đến nay. Ngày 18/5/2007, vợ chồng ông bà làm thủ tục cấp đổi GCNQSD đất và được Ủy ban nhân dân huyện N cấp GCNQSD đất số AB 273181 mang tên Nguyễn Văn S - Đặng Thị S1. Khi cấp vợ chồng ông bà không biết được ghi lệch số thửa, đến năm 2022 mới phát hiện sai, từ đó phát sinh tranh chấp, ông bà nhiều lần yêu cầu gia đình ông L trả lại diện tích lấn 249,3 m² nhưng không được chấp nhận, tranh chấp đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã N nhưng không thành.
Đối với phần diện tích tranh chấp 249,3 m²: Phía Bắc giáp thửa đất 173 của gia đình ông bà; phía Nam giáp đường đường bê tông xóm, phía Tây giáp đường lối đi vào thửa đất của gia đình ông bà; phía Đông giáp thửa đất 1516 (theo 299) nay là thửa đất số 185 của gia đình ông Nguyễn Văn L. Phần diện tích tranh chấp theo lời trình bày của chủ cũ là ông P1 và bà L2 thì thuộc diện tích của gia đình ông P1.
Về nội dung Ủy ban nhân dân huyện N cấp lệch thông tin số thửa từ 1509 sang 1504, gia đình ông không có ý kiến cũng như yêu cầu đính chính vì UBND huyện N đã thừa nhận. Gia đình ông bà căn cứ vào GCNQSD đất số AB 273181 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 18/5/2007, diện tích 1.011 m² mang tên Nguyễn Văn S - Đặng Thị S1 để khởi kiện yêu cầu gia đình ông L trả lại diện tích lấn.
Tại biên bản mô tả ranh giới, mốc giới năm 2009 khi Công ty B thực hiện đo thửa đất số 173, tờ bản đồ 38, gia đình ông bà có chỉ mốc giới, có cán bộ địa chính
3
xã, xóm tham gia cùng để xác định ranh giới, mốc theo hiện trạng, biên bản mô tả ranh giới do ông S ký vào, khi đó 2 gia đình chưa phát sinh tranh chấp phần diện tích 249,3 m².
Về tường rào táp lô nghiêng, không da trát (giáp đường bê tông xóm), bờ rào thép B 40 do gia đình ông L xây dựng, thời gian, ai xây dựng ông bà không nhớ. Bờ tường rào xây táp lô nghiêng (giáp sân nhà ông bà), do gia đình ông tự xây dựng dài khoảng 5 - 7m, không nhớ thời điểm xây, mục đích xây để nước không tràn vào nhà, phần tường rào tiếp giáp đoạn tường rào sang gia đình ông L do ông Lam T2 xây dựng.
Nay ông bà khởi kiện:
- Yêu cầu ông Nguyễn Văn L và bà Đặng Thị P trả lại diện tích đất lấn 249,3 m² tại thửa đất số 1509, tờ bản đồ 05 (theo 299) nay là thửa đất số 193, tờ bản đồ 38 tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Lý do: Thứ nhất: Phần diện tích 249,3 m² thuộc quyền sở hữu hợp pháp của gia đình ông bà, căn cứ theo bản đồ 299, sổ địa chính, sổ mục kê, sổ cấp GCNQSD đất; Thứ hai: Việc cấp GCNQSD đất số AB 273181 ngày 18/5/2007 mang tên Nguyễn Văn S - Đặng Thị S1, Ủy ban nhân dân huyện N đã xác nhận là cấp nhầm từ thửa đất số 1509 thành thửa đất số 1504; Thứ ba: Gia đình ông L không có căn cứ pháp lý chứng minh phần diện tích 249,3 m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình hay chiếm hữu ngay tình, diện tích thửa đất gia đình bị đơn ông L là thửa đất 1516, diện tích 761 m² không bao gồm phần diện tích tranh chấp 249,3 m²; Thứ tư: Các ý kiến của bị đơn như phần diện tích tranh chấp trước đây do gia đình ông Nguyễn Đình T3 khai hoang, sử dụng không có căn cứ. Việc ông S ký biên bản xác nhận mốc, ranh giới năm 2009 không đồng nghĩa với việc xác định quyền sở hữu cho ông L.
- Yêu cầu nhận lại các công trình, tài sản trên phần đất tranh chấp 249,3 m² theo biên bản định giá và trích giá trị cho gia đình ông Nguyễn Văn L.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn L và bà Đặng Thị P, người đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày:
Về nguồn thửa đất 1516 tờ bản đồ số 5 (Bản đồ 299) tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An: Vào tháng 7 năm 1995, gia đình ông Nguyễn Văn L và bà Đặng Thị P mua thửa đất 1516 của gia đình ông Nguyễn Đình T3 với giá 15.000.000 đồng và chuyển đến thửa đất để sinh sống, quản lý và sử dụng từ đó cho đến nay. Khi mua bán với gia đình ông T3, hiện trạng thửa đất bao gồm cả phần diện tích đang đất tranh chấp 249,3 m². Toàn bộ phần diện tích thửa đất này được ông Nguyễn Đình T3 sử dụng canh tác từ năm 1976, trong đó phần diện tích tranh chấp ông T3 có trồng cây bạch đàn. Gia đình ông L giữ nguyên hiện trạng toàn bộ thửa đất như khi mua
4
bán, ông L thu hoạch bạch đàn và trồng Chanh thay thế, xây dựng tường rào tứ cận ngăn cách xung quanh. Tại thời điểm mua bán, giáp ranh phần diện tích đang tranh chấp với thửa đất gia đình ông S chưa có hàng rào ngăn cách nhưng có 5 cây bạch đàn do ông Lê Cương P1 trồng và hàng cây ổi do ông Nguyễn Đình T3 trồng.
Phần diện tích tranh chấp là 249,3 m², tứ cận đúng như ông S trình bày. Phía Bắc giáp với thửa đất gia đình ông Nguyễn Văn S, được ngăn cách bằng tường rào táp lô, do gia đình ông S xây dựng vào khoảng năm 2000 (xây dựng cùng với nhà ở ông S) và tháng 6 năm 2015, gia đình ông bà có xây dựng đoạn tường rào tiếp giáp tường rào gia đình ông S xây. Góc cạnh phía Bắc còn có một gốc Tre do chủ cũ trước đây của thửa đất ông S là ông Lê Cương P1 trồng, hiện đang còn gốc. Phía Nam giáp đường xóm, ngăn cách bằng tường rào đá + táp lô, do gia đình ông L xây dựng năm 2015. Phía Tây giáp đường lối đi vào thửa đất gia đình ông S được ngăn cách bằng lưới hàng rào lưới thép B40, cột bê tông do gia đình ông Lam làm năm 2016. Phía Đông giáp thửa đất của gia đình ông L, không có hàng rào ngăn cách.
Năm 2009, Công ty B đo lại toàn bộ đất đai tại xã N, toàn bộ thửa đất của gia đình ông L và các hộ liền kề đều được đo đạc lại. Hai gia đình ông L, ông S, xóm trưởng có chỉ mốc, ranh giới, xịt sơn, trong đó có phần diện tích đang tranh chấp. Ông L xác định mốc giới thửa của mình đang quản lý, sử dụng bao gồm cả phần đất tranh chấp; Ông S xác định mốc giới không bao gồm cả phần đất tranh chấp, thể hiện tại “Biên bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 07/9/2009” chính ông Nguyễn Văn S là người ký biên bản xác định. Khoảng năm 2021, khi gia đình ông L lập làm hồ sơ cấp đổi GCNQSD đất, các biên bản về giáp ranh xác định mốc giới phần đất tranh chấp đều được ông S ký xác nhận tuy nhiên chưa kịp làm hồ sơ thì phát sinh tranh chấp.
Đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn không đồng ý. Vì các lý do sau:
- Thứ nhất: Năm 1995, gia đình ông L đã nhận chuyển nhượng và sinh sống tại thửa đất bao gồm cả phần đất đang tranh chấp trước khi gia đình ông S chuyển đến năm 2001. Trong quá trình chung sống hai gia đình không hề có tranh chấp về ranh giới và hình thể thửa đất. Việc quản lý, sử dụng thửa đất đúng với hiện trạng từ khi nhận chuyển nhượng từ năm 1995 đến nay.
- Thứ hai: “Biên bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 07/9/2009” chính ông Nguyễn Văn S là người ký biên bản xác định mốc, ranh giới hai thửa đất của hai gia đình. Trong quá trình làm thủ tục lập hồ sơ năm 2011, cấp đổi GCNQSD đất cho gia đình ông L, gia đình ông S đồng ý và ký vào tất cả các biên bản giáp ranh xác định mốc giới hai thửa đất và không có ý kiến gì.
5
- Thứ ba: Phần đất đang tranh chấp 249,3 m² hiện nay chưa được cấp GCNQSD đất cho ai; Việc nguyên đơn căn cứ vào GCNQSD đất số AB 273181 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 18/5/2007 mang tên Nguyễn Văn S - Đặng Thị S1 là không có căn cứ, vì GCNQSD đất này cấp cho thửa đất 1504, tờ bản đồ 05, không phải là cấp cho phần diện tích 249,3 m² đang tranh chấp giữa hai gia đình. Vì vậy không có cơ sở nào để cho rằng thửa đất của ông S và bà S1 thiếu và bị gia đình ông Lam L3, chiếm. Không có căn cứ trả lại đất nên các tài sản, công trình trên đất thuộc quyền sở hữu, quản lý của gia đình bị đơn ông L.
Người làm chứng ông Lê Cương P1 và bà Đặng Thị L2 trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 1509, tờ bản đồ 05 tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An có diện tích hơn 1.000 m² do xã Nam Kim cấp cho cụ thân sinh ra ông P1 từ khoảng năm 1976, sau đó các cụ làm nhà ở trên đó từ năm 1977 đến năm 1997. Do không có sử dụng nên năm 1997, gia đình ông bà chuyển nhượng thửa đất trên lại cho cháu Nguyễn Văn S với giá khoảng 17.000.000 đồng, việc chuyển nhượng bằng miệng. Thửa đất đã được cấp GCNQSD đất cho vợ chồng ông bà, khi chuyển nhượng bao gồm cả phần diện tích tranh chấp đã được cấp giấy chứng nhận.
Người làm chứng ông Nguyễn Đình T4 trình bày:
Ông là con trai của cụ Nguyễn Đình T3 và cụ Lê Thị T5 (Đều đã chết). Thửa đất số 1516, tờ bản đồ 05 tại xóm B, xã N, huyện N của gia đình ông có nguồn gốc do cha mẹ khai hoang vào trước năm 1976, bao gồm phần diện tích đất gia đình ông L đang sử dụng và phần diện tích 249,3 m² hai gia đình ông S và ông L đang tranh chấp. Tháng 7 năm 1995, cha mẹ ông chuyển nhượng toàn bộ phần diện tích này cho ông Nguyễn Văn L và Đặng Thị P với giá 15.000.000 đồng. Phần diện tích 249,3 m² do cha mẹ ông khai hoang, trồng bạch đàn, sau khi chuyển nhượng cho ông L thì gia đình ông L tiếp tục canh tác, sử dụng, không khai hoang mở rộng diện tích, ranh giới thửa đất từ trước đến nay không thay đổi, giữ nguyên khi hiện trạng mua bán.
Người làm chứng ông Đặng Quang Đ trình bày:
Ông là hàng xóm, là thành viên ban hòa giải của xóm, trực tiếp tham gia hòa giải tại xóm vụ tranh chấp đất đai giữa gia đình ông Nguyễn Văn S và ông Nguyễn Văn L.
Thửa đất số 1509, tờ bản đồ số 05 tại xóm B, xã N, huyện N của gia đình ông Nguyễn Văn S đang sử dụng có nguồn gốc nhận chuyển nhượng lại của gia đình ông Lê Cương P1 và bà Đặng Thị L2. Thửa đất số 1516, tờ bản đồ số 05 tại xóm B, xã N, huyện N của gia đình ông Nguyễn Văn L đang sử dụng có nguồn gốc nhận chuyển nhượng lại của gia đình ông Nguyễn Đình T3. Gia đình ông T3 canh tác, sử dụng thửa đất trước gia đình ông P1, gia đình ông L sau khi nhận chuyển nhượng cũng ra ở
6
trước gia đình ông S.
Phần diện tích hai gia đình đang tranh chấp 249,3 m² do gia đình ông T3 canh tác sử dụng trồng cây lâu năm: Bạch đàn. Sau khi nhận chuyển nhượng, gia đình ông L tiếp tục canh tác, sử dụng từ đó cho đến nay. Ranh giới, tường rào hiện trạng như hiện nay do gia đình ông L xây dựng, chính ông S là thợ xây mà ông L thuê xây tường rào.
Người làm chứng ông Đặng Quốc H2 trình bày:
Ông là hàng xóm, trưởng ban công tác công tác mặt trận của xóm, là thành viên ban hòa giải của xóm, trực tiếp tham gia hòa giải tại xóm vụ tranh chấp đất đai giữa gia đình ông Nguyễn Văn S và ông Nguyễn Văn L.
Thửa đất số 1509, tờ bản đồ số 05 tại xóm B, xã N, huyện N của gia đình ông Nguyễn Văn S đang sử dụng có nguồn gốc nhận chuyển nhượng lại của gia đình ông Lê Cương P1 và bà Đặng Thị L2. Thửa đất số 1516, tờ bản đồ số 05 tại xóm B, xã N, huyện N của gia đình ông Nguyễn Văn L đang sử dụng có nguồn gốc nhận chuyển nhượng lại của gia đình ông Nguyễn Đình T3.
Gia đình ông T3 canh tác, sử dụng thửa đất trước gia đình ông P1, gia đình ông L sau khi nhận chuyển nhượng cũng ra ở trước gia đình ông S. Phần diện tích hai gia đình đang tranh chấp 249,3 m² do gia đình ông T3 canh tác sử dụng trồng cây lâu năm: Bạch đàn. Sau khi nhận chuyển nhượng, gia đình ông L tiếp tục canh tác, sử dụng từ đó cho đến nay. Tường rào bao quanh phần diện tích tranh chấp do hai gia đình xây dựng không báo cáo với xóm.
Với nội dung trên, bản án sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 163, 164, 166, 175, 176 của Bộ luật Dân sự2015; Điều 166, 202, 203 của Luật Đất đai2013; Điều 147, 157, 158, 165, 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S và bà Đặng Thị S1 về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn L và bà Đặng Thị P trả lại diện tích đất lấn 249,3 m² tại thửa đất số 1509, tờ bản đồ 05 (theo 299) nay là thửa đất số 193, tờ bản đồ 38 tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S và bà Đặng Thị S1 về việc nhận lại các tài sản trên phần diện tích đất lấn là 249,3 m² gồm: Bờ tường rào lưới B40, cọc bê tông cốt thép dài 12,5m, trị giá 1.410.000 đồng; bờ tường rào xây đá táp lô nghiêng không da trát, dài 21 m (Giáp đường xóm), trị giá 1.776.000
7
đồng; Móng tường táp lô nằm, trị giá 756.000 đồng; Bờ tường rào xây gạch chỉ, trị giá 1.840.000 đồng (Gia đình ông S xây dựng chiều dài 5 – 7m: Gia đình ông S không có ý kiến, yêu cầu gì; phần tường rào còn lại do gia đình ông L xây dựng); Móng xây gạch táp lô nằm, trị giá 468.000 đồng; bờ tường rào xây táp lô nghiêng, trị giá 930.000 đồng; M xây táp lô nằm, trị giá 396.000 đồng; Cây cối gồm: 24 cây chanh có quả, trị giá 4.800.000 đồng; 06 cây chanh chưa có quả, trị giá 600.000 đồng; 01 cây ổi trị giá 200.000 đồng và trích giá trị cho gia đình ông Nguyễn Văn L.
Bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24 tháng 9 năm 2024, nguyên đơn ông Nguyễn Văn S kháng cáo đối với bản án Dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án dân sự sơ thẩm và giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị huỷ bản án sơ thẩm của TAND huyện Nam Đàn.
Tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn S giữ nguyên nội dung kháng cáo của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán được phân công đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục phiên tòa. Người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thủ tục kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn S kháng cáo trong thời hạn luật định và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đầy đủ theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội nên được Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết vụ án là đúng pháp luật.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng và ý kiến Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm. Hội đồng xét xử nhận định:
8
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có người đại diện theo uỷ quyền tham gia phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người này theo quy định tại khoản 2 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Văn S đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm, huỷ bản án sơ thẩm. Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Đối với yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S và bà Đặng Thị S1 yêu cầu ông Nguyễn Văn L trả lại diện tích đất lấn là 249,3m²:
[2.1.1] Về nguồn gốc thửa đất của hai gia đình: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thống nhất, thửa đất số 1509, tờ bản đồ số 05 tại xóm B, xã N, huyện N của gia đình ông Nguyễn Văn S có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của gia đình ông Lê Cương P1 và bà Đặng Thị L2 năm 2001. Thửa đất số 1516, tờ bản đồ số 05 tại xóm B, xã N, huyện N của gia đình ông Nguyễn Văn L có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của gia đình ông Nguyễn Đình T3 vào năm 1995. Sau khi nhận chuyển nhượng, hai gia đình sinh sống trên thửa đất từ đó cho đến nay. Năm 2022, giữa hai gia đình ông S và ông L phát sinh tranh chấp, phần diện tích tranh chấp là 249,3 m². Việc tranh chấp đã được hòa giải tại UBND xã N nhưng không thành.
Các công trình, tài sản trên đất tranh chấp là của gia đình bị đơn ông L và bà P gồm: Bờ tường rào lưới B40, cọc bê tông cốt thép dài 12,5m, bờ tường rào xây đá táp lô nghiêng không da trát, dài 21 m (giáp đường xóm), móng tường táp lô nằm, bờ tường rào xây gạch chỉ, (Gia đình ông S xây dựng chiều dài 5 - 7m: Gia đình ông S không có ý kiến, yêu cầu gì, phần tường rào còn lại do gia đình ông L xây dựng); Móng xây gạch táp lô nằm, bờ tường rào xây táp lô nghiêng, móng xây táp lô nằm, cây cối gồm: 24 cây chanh có quả, 06 cây chanh chưa có quả, 01 cây ổi.
Phần diện tích tranh chấp 249,3 m²: Phía Bắc giáp thửa đất 1509 nay là thửa đất 173 của gia đình ông Nguyễn Văn S, kích thước 13,15m + 12,8m; phía Nam giáp đường đường bê tông xóm, kích thước 13,57m + 2,96m + 4,52m; phía Tây giáp đường lối đi vào thửa đất của gia đình ông Nguyễn Văn S, kích thước 14,52 m; phía Đông giáp thửa đất 1516 (Theo 299) nay là thửa đất số 185 của gia đình ông Nguyễn Văn L (Theo kết quả đo vẽ của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N, tỉnh Nghệ An).
[2.1.2] Căn cứ pháp lý để nguyên đơn ông Nguyễn Văn S và bà Đặng Thị S1 khởi kiện yêu cầu gia đình ông L trả lại đất là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 273181 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 18/5/2007, mang tên Nguyễn Văn S - Đặng Thị S1. Tuy nhiên, tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này ghi thửa đất
9
1504 trong khi thửa đất của gia đình ông S sử dụng từ trước đến nay là 1509.
Về mặt diện tích: Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 1504, tờ bản đồ 05, diện tích 1.011 m² nay là thửa đất số 173, tờ bản đồ số 38, diện tích đo hiện trạng năm 2011 là 1.351 m², đo năm 2024 là 1.361,7 m² (Diện tích đất đo năm 2024 thừa 350,7 m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đình ông S). Phần diện tích 249,3 m² chưa được cơ quan nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai cũng như chưa được cấp cho thửa đất gia đình ông S, trong khi đó phần diện tích 249,3 m² trước đó gia đình ông Nguyễn Đình T3 canh tác sử dụng trước năm 1980, năm 1995 sau khi nhận chuyển nhượng gia đình ông Nguyễn Văn L tiếp tục canh tác sử dụng từ đó cho đến nay.
Ý kiến của nguyên đơn và người đại diện về nguồn gốc thửa đất số 1509, tờ bản đồ 05, diện tích 1.011 m² nay là thửa đất số 193, tờ bản đồ 38 tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông S. Căn cứ các tài liệu sổ địa chính, sổ mục kê, sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, báo cáo của Ủy ban nhân dân xã N, Ủy ban nhân dân huyện N đã xác nhận nội dung nguyên đơn và người đại diện trình bày là đúng. Tuy nhiên đối với phần diện tích tranh chấp 249,3 m² phía nguyên đơn cho rằng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Nguyễn Văn S nhưng không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh. Gia đình ông S chưa từng canh tác sử dụng phần diện tích này. Lời khai của đương sự, người làm chứng cũng như báo cáo của Ủy ban nhân dân xã N đều khẳng định nội dung gia đình ông L canh tác, sử dụng trên phần diện tích tranh chấp từ năm 1995 cho đến năm 2022 (27 năm), các bên không có tranh chấp, chính quyền địa phương không có ý kiến hay quyết định xử phạt hành chính.
Nguyên đơn và người đại diện cho rằng phần diện tích 249,3 m² bị đơn sử dụng nhưng không có chứng cứ chứng minh quyền sở hữu cũng như chiếm hữu ngay tình. Việc nguyên đơn đưa ra yêu cầu khởi kiện đòi trả lại diện tích lấn 249,3 m² nên phải có nghĩa vụ phải cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp theo khoản 1 Điều 6 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.1.3] Về hình thể thửa đất, theo Công văn số 2370/UBND-TNMT ngày 22/7/2024 của UBND huyện N cung cấp: “Tại trang 3 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 273181 thể hiện về hình thể của thửa đất ông S đang khởi kiện so sánh giữa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bản đồ 299 có sự khác nhau cạnh phía Bắc và phía Nam (Phía Bắc theo sơ đồ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007 là đường trục còn theo bản đồ 299 là đất vườn, ở thửa đất số 1507, 1509, tờ bản đồ 05; Phía Nam theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007 là đường trục còn theo bản đồ 299 là đường trục và đất ông L)”, tức việc cấp Giấy chứng nhận
10
quyền sử dụng đất năm 2007 thửa đất gia đình ông S không phải căn cứ vào hình thể từ bản đồ 299. Ý kiến của nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 273181 và bản đồ 299 để khởi kiện là không phù hợp, không có căn cứ. Quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông S không tiến hành đo đạc lại theo hiện trạng và xác định ranh giới thực tế.
Ngoài ra, nguyên đơn cho rằng hình thể thửa đất của nguyên đơn có sự khác nhau giữa bản đồ 299 và bản đồ địa chính, nội dung này Ủy ban nhân dân xã N khẳng định là do bản đồ 299 được đo vẽ thủ công, còn bản đồ địa chính được đo đạc chính quy bằng máy móc hiện đại nên có sự khác nhau này.
[2.1.4] Về ranh giới thửa đất của gia đình ông S và gia đình ông L. Theo lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Đình T4 trình bày “diện tích, ranh giới thửa đất 1509 và 1516 từ trước đến nay không thay đổi, giữ nguyên khi hiện trạng mua bán”. Gia đình ông L canh tác sử dụng nguyên hiện trạng toàn bộ thửa đất 1516 và phần diện tích tranh chấp 249,3 m² từ năm 1995 cho đến nay. Giai đoạn đo đạc lại toàn bộ đất đai xã N năm 2009 – 2011, gia đình ông S và gia đình ông L đều biết, là người dẫn đạc, chỉ mốc giới, ranh giới thửa đất của hai gia đình, phần diện tích đang tranh chấp 249,3 m² do gia đình ông L canh tác sử dụng, tại “biên bản mô tả ranh giới, mốc giới ngày 07/9/2009”, chính ông S là thừa nhận ký vào biên bản này, điều này thể hiện ý thức hai gia đình đã tự xác định ranh giới, mốc giới hai thửa đất giáp ranh cho nhau. Ngoài ra, theo lời khai của người làm chứng năm 2015 khi ông L tiến hành xây dựng tường rào kiên cố bao quanh phần diện tích tranh chấp 249,3 m² chính nguyên đơn ông S là thợ xây dựng, ông không phản đối về việc xây dựng ranh giới này. Năm 2015 và 2016, gia đình ông L xây dựng tường rào kiên cố bao quanh thửa đất mặc dù biết nhưng gia đình ông S không có ý kiến phản đối. Chính ông S tự thừa nhận đã tự xây tường rào phía trước sân nhà ông S để ngăn không cho nước vào sân nhà mình. Như vậy, về mặt thực tế ranh giới giữa hai thửa đất 1509 và 1516 tồn tại ổn định từ trước đến nay. Ranh giới giữa hai thửa đất của hai gia đình là do hai bên tự thỏa thuận, xác định, điều này phù hợp với khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015 “Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận”.
[2.1.5] Về nguồn gốc, thời điểm sử dụng thửa đất số 1516, tờ bản đồ 05 nay là thửa đất số 185, tờ bản đồ 38 do gia đình ông Nguyễn Đình T3 trước thửa đất số 1509, tờ bản đồ 05 nay là thửa đất số 173, tờ bản đồ số 38 của gia đình ông Lê Cương P1. Năm 1995, gia đình ông Nguyễn Văn L nhận chuyển nhượng nguyên thửa, nguyên hiện trạng của gia đình ông T3 và sinh sống từ đó cho đến nay. Năm 2001, gia đình ông S mới ra canh tác sử dụng thửa đất số 1509. Bị đơn cũng thừa
11
nhận khi ra ở riêng thì hiện trạng hai thửa đất giống như bây giờ. Hiện trạng khi nhận chuyển nhượng, gia đình ông T3 đã sử dụng, canh tác trên phần diện tích 249,3 m² tranh chấp này, thể hiện bằng việc trồng bạch đàn, cây lâu năm....sau nay gia đình ông L tiếp tục canh tác, sử dụng thể hiện bằng việc trông C, cây ăn quả, xây tường rào ngăn cách...trên phần đất tranh chấp này trong thời gian dài nhưng gia đình ông S không có ý kiến gì. Nội dung này phù hợp với lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Đình T4 (Con trai ông T3), ông Đặng Quang Đ.
[2.1.6] Việc nguyên đơn cho rằng phần diện tích tranh chấp 249,3 m² là của gia đình chủ cũ trước đây ông Lê Cương P1 - bà Đặng Thị L2 cho gia đình ông Nguyễn Đình T3 “mượn” canh tác, sử dụng nhưng cũng không có căn cứ, tài liệu chứng cứ chứng minh nội dung này. Trong khi đó, lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Đình T4 khai khi gia đình ông đã canh tác sử dụng phần diện tích tranh chấp này để trồng bạch đàn, lời khai này cũng phù hợp với lời khai của người làm chứng khác, các ông bà cao niên sinh sống gần thửa đất. Việc ông L xây tường rào, trồng cây ăn quả từ năm 1995 đến nay, gia đình ông S đều biết nhưng không có ý kiến phản đối.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có việc chuyển dịch mốc giới, ranh giới giữa thửa đất của gia đình ông Nguyễn Văn S với ông Nguyễn Văn L mà ranh giới do hai bên xác định đã ổn định về mặt thực tế từ trước tới nay. Do đó, việc Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông S và bà S1 buộc gia đình ông L phải trả lại diện tích 249,3 m² lấn là có căn cứ cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[2.2] Đối với yêu cầu nhận lại các công trình, tài sản trên phần đất tranh chấp 249,3 m² theo biên bản định giá và trích giá trị cho gia đình ông Nguyễn Văn L: Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của ông S bà S1 về việc buộc gia đình ông L trả lại 249,3 m² không được chấp nhận. Toàn bộ tài sản công trình trên phần diện tích 249,3 m² thuộc sở hữu hợp pháp của gia đình ông L. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông S và bà S1 là có căn cứ, Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo này của ông S và bà S1 cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về chi phí tố tụng gồm xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, đo vẽ hiện trạng thửa đất: Yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên Toà án cấp sơ thẩm buộc nguyên đơn phải chịu chi phí tố tụng 6.000.000 đồng là có căn cứ, cần giữ nguyên.
[4] Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Văn S, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024, của Tòa án nhân dân huyện
12
Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
[5] Về án phí: Ông Nguyễn Văn S kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024, của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Nguyễn Văn S phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001702 ngày 24/9/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hồng Vân |
13
Bản án số 55/2025/DS-PT ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Số bản án: 55/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
