|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2025/DS-PT Ngày 18/6/2025 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂNTỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.
Các thẩm phán: Ông Trần Đình Chi và bà Lê Thị Thu Huyền.
Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hùng- Kiểm sát viên.
Ngày 18/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 28/2025/TLPT-DS ngày 09 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo đơn kháng cáo của nguyên đơn anh Trần Ngọc T, đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 50/2025/QĐ-PT ngày 07/5/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 01/2025/QĐ-PT ngày 22/5/2025. Giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trần Ngọc T, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Khu E, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Bị đơn: Bà Trần Thị Thu M; sinh năm 1965; Nơi cư trú: Khu E, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Chị Nguyễn Thanh X, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Khu E, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
- + Ông Trần Văn T1; Nơi cư trú: Khu E, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là anh Trần Ngọc T trình bày:
Năm 2003 vợ chồng anh T, chị X đấu giá được diện tích đất 200m2 và được UBND huyện H, tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất ngày 06/3/2007; thửa đất số 505, tờ bản đồ số 05, địa chỉ thửa đất khu 4, xã Đ (khu E xã Đ), huyện H, tỉnh Phú Thọ; đứng tên ông Trần Ngọc T và bà Nguyễn Thanh X. Đất có cạnh trước 12m, cạnh sau 13m, 2 cạnh bên 16m. Năm 2009 vợ chồng anh xây nhà 2,5 tầng khoảng 100m2 đất (mặt trước khoảng 5,14m, mặt sau khoảng 5,1 m giáp đất nhà ông C, bà H). Phần còn lại giáp đất nhà bà M, ông T1. Khoảng năm 2016, 2017 phần đằng sau vợ chồng anh làm chuồng lợn giáp bờ tường nhà bà M. Năm 2021 phần đất còn lại đằng trước anh xây quán, lợp mái tôn để bán hàng. Khi đó bà M có chửi anh, cho rằng gia đình anh lấn 25cm đất, cản trở việc xây dựng của anh, chị. Thời điểm khi làm chuồng lợn gia đình anh cũng thấy thiếu đất nhưng vợ chồng anh không nói gì. Để làm rõ việc lấn chiếm anh T làm đơn ra UBND xã đề nghị giải quyết nhiều lần nhưng không thành.
Anh T cho biết thêm khi đấu giá có 3 thửa đất, thửa nhà anh là ở giữa, ở ngoài là ông V, sau này nhà ông V bán cho ông C, bà H. Ở đất bên trong là của ông H1, bà L đấu giá sau đó bán cho bà T2. Dinh là chị gái vợ (chị X), do khi đó bà T2, ông D có mặt nên liền kề thửa mua ở đất đấu chống (ông D) và nhờ anh T, chị X đứng tên hộ. Sau đó bà T2 bán cho bà M, ông T1 chứ không phải là đất của anh bán cho bà M, ông T1.
Nay anh T, chị X đề nghị gia đình bà M trả phần đất đã lấn chiếm đằng trước 14cm đằng sau là 7cm. Sau khi tiến hành thẩm định, định giá anh xác định phần đất lấn chiếm phía mặt trước là 21cm, mặt sau là 4,2 cm.
[2] Bị đơn là bà Trần Thị Thu M trình bày:
Năm 2009 vợ chồng bà có mua của em trai ruột là anh T 01 diện tích đất là 100m2, đã được cấp Giấy chứng nhận QSD đất ngày 01/11/2012 thửa đất số 504-1, tờ bản đồ số 05; địa chỉ tại khu D, xã Đ (khu E xã Đ), huyện H, tỉnh Phú Thọ. Đứng tên hộ bà Trần Thị Thu M và ông Trần Văn T1. Đất có các chiều cạnh trước 6,25m, cạnh sau 6,25m, 2 cạnh bên 16m. Giá mua là 38.000.000đồng. Năm 2014 vợ chồng bà xây nhà 1 tầng và 1 tầng âm. Trước khi xây nhà gia đình vào đo đạc và nhà anh T, chị X không có ý kiến gì.
Phần đất nhà anh T, chị X năm 2009 mua đấu giá. Sau đó làm nhà xây chuồng lợn và quán như anh T khai. Năm 2021 khi anh T, chị X xây phần quán lợp mái tôn cho rằng nhà bà bị có lấn chiếm nên đã làm đơn ra UBND xã. UBND xã Đ đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không thành.
Nay phía anh T khởi kiện cho rằng gia đình bà M lấn đất, quan điểm của bà M là hiện nay đất của gia đình bà vẫn còn thiếu cả mặt trước và mặt sau so với Giấy chứng nhận QSD đất, gia đình bà không lấn chiếm. Đề nghị tòa xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
[3] Quan điểm của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Nguyễn Thanh X trình bày: Chị thống nhất với ý kiến của chồng chị là anh T. Đề nghị tòa án giải quyết buộc nhà bà M phải trả đất lấn chiếm theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, tại phiên tòa chị X có khai là trước đây có mua chung đất với chị T2 (là chị gái) diện tích đất đã bán cho bà M, chứ không phải là đất đứng tên hộ bà M. Hiện nay chị không có tài liệu giấy tờ giấy về việc mua bán chung này.
- - Ông Trần Văn T1 trình bày: Ông thống nhất với ý kiến của vợ ông là bà Trần Thị Thu M trình bày. Gia đình ông hiện còn thiếu đất và không lấn chiếm đất của gia đình anh T, chị X.
- Chị Nguyễn Thị Thanh T2 trình bày: Việc tranh chấp đất giữa gia đình anh T và gia đình chị M chị có được nghe nhiều năm nay. Chị là chị vợ của anh Trần Ngọc T. Trước đây anh T có rủ chị mua đất đấu giá chung, nhưng chị không đồng ý. Sau đó anh T mua đất và bán đất cho chị gái là Trần Thị Thu M như nào chị không biết. Chị không liên quan gì đến việc mua bán đất hay tranh chấp đất giữa 2 hộ. Đề nghị Tòa án không báo gọi chị lên Tòa làm việc, không đưa chị vào vụ án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Còn về lời khai của anh T cho rằng đứng tên đất hộ chị là hoàn toàn không đúng sự thật, chị không bán đất cho nhà chị M.
- Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H và UBND huyện H có cùng quan điểm trình bày:
Về nguồn gốc đất:
- - Thửa đất số số 505, tờ bản đồ số 05, diện tích 200m2; địa chỉ thửa đất khu D, xã Đ (khu E xã Đ), huyện H, tỉnh Phú Thọ; đứng tên ông Trần Ngọc T và bà Nguyễn Thanh X nguồn gốc thửa đất là do gia đình anh T, chị X mua đấu giá.
- - Thửa đất số thửa đất số 504-1, tờ bản đồ số 05; diện tích 100 m2; địa chỉ tại khu D, xã Đ (khu E xã Đ), huyện H, tỉnh Phú Thọ. Đứng tên hộ bà Trần Thị Thu M và ông Trần Văn T1 là nhận chuyển nhượng từ gia đình anh T, chị X.
Việc tranh chấp giữa 2 gia đình, là chị em ruột. Địa phương đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Sau khi Tòa án tiến hành thẩm định, định giá tài sản. Hiện nay về diện tích mặt trước, mặt sau và tổng diện tích đất của 2 hộ đều thiếu so với giấy chứng nhận QSD đất, nhưng không đáng kể. Có thể là sai sót, xê dịch do kỹ thuật đo đạc trước đây. Về phần đất thừa so với Giấy chứng nhận QSD đất của 2 hộ, là phần diện tích đất làm mương của UBND xã. Phần đất thừa này các hộ đang sử dụng, UBND chưa có nhu cầu sử dụng nên chưa lấy lại, vẫn để các hộ tiếp tục sử dụng, sau này cần thiết UBND xã sẽ lấy lại sau. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với việc chuyển nhượng đất giữa 2 hộ, quan điểm của UBND xã Đ và UBND huyện H là quá trình chuyển nhượng Giấy chứng nhận QSD đất thực hiện đúng quy định.
Ngoài ra UBND xã Đ đề nghị Tòa án không đưa UBND xã Đan Thượng vào vụ án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
[5] Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ quyết định:
Căn cứ vào: Điều 168; khoản 1 Điều 175 bộ luật dân sự; khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 165; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; khoản 1 Điều 12; khoản 5 Điều 98; khoản 1, 5 Điều 166; khoản 1 Điều 170; khoản 5 Điều 202; khoản 1 Điều 203 Luật đất đai 2013. Khoản 1, 3 Điều 26; điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
- - Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Ngọc T.
- - Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu chi phí thẩm định, định giá tài sản (Đương sự đã nộp đầy đủ).
- - Về án phí: Anh Trần Ngọc T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật. Được khấu trừ vào số tiền anh T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số BLTU/2023/0002981 ngày 10 tháng 5 năm 2024 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.
Bản án còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
[6] Nội dung kháng cáo:
Ngày 27/02/2025, Nguyên đơn là anh Trần Ngọc T kháng cáo đối với toàn bộ bản án số 02/2025/DS-ST ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Họa, tỉnh Phú Thọ, anh T cho rằng diện tích đất của gia đình anh bị thiếu là do gia đình bà Trần Thị Thu M lấn chiếm và đề nghị cấp phúc thẩm xét xử theo đúng thực tế và quy định của pháp luật cho anh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện H đã cấp cho gia đình anh.
[7] Quan điểm của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn là anh Trần Ngọc T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm.
Các đương sự không kháng cáo đều vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm nên không có ý kiến gì về kháng cáo của anh Trần Ngọc T.
[8] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký phiên tòa. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự đối với phiên tòa phúc thẩm.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của anh Trần Ngọc T.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Trần Ngọc T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình bày của các bên đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của anh Trần Ngọc T được nộp ngày 27/02/2025, trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo yêu cầu xét xử lại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, thuộc thẩm quyền xét xử phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn anh Trần Ngọc T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thanh X có mặt. Bị đơn bà Trần Thị Thu M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T1 có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này là phù hợp.
[2] Xét kháng cáo của anh Trần Ngọc T:
Anh T kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 17/02/2025, cho rằng diện tích đất của gia đình anh bị thiếu là do gia đình bà Trần Thị Thu M lấn chiếm. Anh đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét theo thực tế và đảm bảo quyền lợi của anh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Tại cấp sơ thẩm, Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa đã tiến hành thẩm định hiện trạng sử dụng đất của hai hộ. Kết quả thẩm định cho thấy:
Thửa đất số 505, tờ bản đồ số 05, diện tích 200m2, đứng tên anh Trần Ngọc T và chị Nguyễn Thanh X, có cạnh trước thực tế là 11,79m (thiếu 21cm so với 12m), cạnh sau là 12,58m (thiếu 4,2cm so với 13m), tổng diện tích thực tế là 194,8m2, thiếu 5,2m2 so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thửa đất số 504-1, tờ bản đồ số 05, diện tích 100m2, đứng tên bà Trần Thị Thu M và ông Trần Văn T1, có cạnh trước thực tế là 6,08m (thiếu 17cm so với 6,25m), cạnh sau là 6,20m (thiếu 5cm so với 6,25m), tổng diện tích thực tế là 98,2m2, thiếu 1,8m2 so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cả hai thửa đất đều thiếu diện tích so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không có căn cứ xác định hộ bà M, ông T1 lấn chiếm đất của hộ anh T, chị X. Quan điểm của UBND xã Đ cũng xác định rằng sự thiếu hụt này có thể do sai sót hoặc xê dịch kỹ thuật đo đạc trước đây, và mức thiếu hụt là không đáng kể.
Tại cấp phúc thẩm, Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành thẩm định hiện trạng sử dụng đất của hai hộ đều thể hiện:
Thửa đất số 505, tờ bản đồ số 05, diện tích 200m2, đứng tên anh Trần Ngọc T và chị Nguyễn Thanh X, có cạnh trước thực tế là 11, cạnh sau là 12,93m, tổng diện tích thực tế là 198,4m2, thiếu 1,6m2 so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thửa đất số 504-1, tờ bản đồ số 05, diện tích 100m2, đứng tên bà Trần Thị Thu M và ông Trần Văn T1, có cạnh trước thực tế là 6,01m, cạnh sau là 6,07m, tổng diện tích thực tế là 96,6m2, thiếu 3,4m2 so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại Quyết định số 424/QĐ-CCTLCC ngày 27/5/2025 của toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện H cung cấp bản vẽ quy hoạch chi tiết có kềm vị trí toạ độ đối với hai thửa đất trên để xác định vị trí chính xác vị trí hai thửa đất nhưng Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H có công văn số 243/CV-CNVPĐK ngày 04/6/2025 thể hiện “Việc cung cấp bản vẽ quy hoạch chi tiết đối với thửa đất trên tại thoài điểm cấp GCNQSDĐ chưa thực hiện việc trích đo theo toạ độ VN2000 nên Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H không có cơ sở để cung cấp”. Do vậy:
- - Bản án sơ thẩm đã đánh giá toàn diện các tài liệu, chứng cứ, bao gồm biên bản thẩm định hiện trạng đất, lời khai của các đương sự, ý kiến của UBND xã Đ và UBND huyện H. Việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T là có căn cứ, vì không có chứng cứ xác định việc lấn chiếm đất từ phía hộ bà M.
- - Về diện tích đất thừa: Cả hai hộ đều sử dụng đất thừa so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hộ anh T thừa 96,8m2, hộ bà M thừa 29,3m2). Phần đất thừa này được xác định là đất do UBND xã Đ quản lý (đất mương), và UBND xã chưa có nhu cầu thu hồi. Cả hai hộ và UBND xã đều thống nhất rằng phần đất này không liên quan đến tranh chấp, và UBND xã không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, việc cấp sơ thẩm không xem xét phần đất thừa là phù hợp.
Kết luận: Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của anh T nên giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm là phù hợp.
[3] Về chi phí thẩm định và chi phí đo diện tích hai thửa đất do yêu cầu kháng cáo của anh T không được chấp nhận nên anh T phải chịu 8.900.000đ, xác nhận anh T đã nộp đủ.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Trần Ngọc T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo của anh T không được chấp nhận.
[5] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của anh Trần Ngọc T.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.
[2] Về chi phí thẩm định và chi phí đo diện tích hai thửa đất do yêu cầu kháng cáo của anh Trần Ngọc T không được chấp nhận nên anh T phải chịu 8.900.000đ (tám triệu chín trăm nghìn đồng), xác nhận anh T đã nộp đủ.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Anh Trần Ngọc T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003224 ngày 06/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo và kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Anh Tuấn |
Bản án số 55/2025/DS-PT ngày 18/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 55/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa anh T và bà M
