|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2024/DS-PT Ngày: 23/4/2024 V/v: “Tranh chấp HĐ vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
|
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Dung |
|
|
Các Thẩm phán: |
Bà Lê Thị Tân |
|
Bà Lê Thị Phương Thanh |
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Phi - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hoá
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Ôntg Nguyễn Văn Chuỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 21/2024/TLPT, ngày 15 tháng 3 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền”. Do bản án số 01/2024/DS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc bị kháng cáo của bị đơn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐ-PT ngày 12/4/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
- Bà Vũ Thị N - Sinh năm: 1977.
- Ông Trương Bá T - Sinh năm 1973.
Cùng ĐKHKTT: Thôn P, xã N, huyện V, tỉnh Thanh Hóa.
Hiện cùng trú tại: Khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa.
* Bị đơn:
- Bà Đỗ Thị T1 - Sinh năm: 1984.
- Ông Ngô Văn L - Sinh năm 1980.
Cùng ĐKHKTT: Khu phố C, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa.
Có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 9 năm 2023, bản tự khai ngày 06/11/2023, qúa trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trương Bá T, bà Vũ Thị N trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết, nên ngày 02/02/2022, bà Đỗ Thị T1 và ông Ngô Văn L có vay nợ của vợ chồng ông T, bà N tổng số tiền 377.000.000 đồng, với mức lãi suất ghi trong giấy vay là 2%/01 tháng, bà T1 và ông L hẹn bằng lời nói với bà N, ông T đến ngày 02/05/2022 bà T1, ông L sẽ trả xong tiền nợ gốc và lãi cho vợ chồng ông T, bà N.
Từ khi vay đến trước ngày 22 tháng 02 năm 2022, bà T1 đã trả cho ông T, bà N 02 lần với tổng số tiền 60.000.000 đồng tiền nợ gốc.
Quá hạn trả nợ, bà T1 và ông L chưa trả thêm cho vợ chồng ông T, bà N được khoản tiền gốc và tiền lãi nào. Vợ, chồng ông T, bà N đã nhiều lần yêu cầu bà T1 và ông L trả tiền, nhưng bà T1 và ông L cứ khất lần không chịu trả.
Quá trình tố tụng ông T, bà N yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà Đỗ Thị T1 và ông Ngô Văn L phải trả cho vợ chồng ông bà số tiền gốc còn lại là 317.000.000 (Ba trăm, mười bảy triệu đồng) và số tiền lãi phát sinh với mức lãi suất theo quy định của pháp luật cho đến khi bà T1 và ông L trả hết tiền gốc và lãi cho vợ chồng ông T, bà N, nhưng trong đơn trình bày ngày 01/12/2023 và tại phiên tòa bà N, ông T chỉ yêu cầu bà Đỗ Thị T1 phải có trách nhiệm thanh toán cho vợ, chồng ông, bà tổng số tiền nợ gốc còn lại là 317.000.000 đồng và lãi xuất vay nợ là 20%/năm, tính từ ngày 22/02/2022 đến ngày xét xử.
2. Tại bản tự khai ngày 07/11/2023 quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Đỗ Thị T1 trình bày như sau:
Ngày 02/02/2022, bà T1 có vay nợ của vợ chồng ông T, bà N số tiền 377.000.000₫ (Ba trăm bảy mươi bảy triệu đồng). Việc vay, nợ có giấy tờ viết giấy vay tiền mặt. Việc vay nợ này là của cá nhân bà Đỗ Thị T1 với vợ, chồng ông T, bà N là do một mình bà T1 là người trực tiếp vay tiền; ông Ngô Văn L là (chồng bà T1) không được biết và không tham gia ký kết, giao dịch nên đây là việc vay nợ riêng của cá nhân bà T1 và ông T, bà N. Bà T1 vay nợ số tiền trên của ông T, bà N để chi tiêu vào việc riêng, ông L không biết gì và không được tham gia, không chi tiêu, sử dụng cùng bà T1 số tiền trên.
Việc vay nợ của bà T1 với ông T, bà N có giấy vay nợ viết tay do bà T1 và bà N, ông T cùng ký với lãi xuất khi vay là 1.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tức là 30%/tháng. Tính từ khi vay đến nay bà T1 đã trả được cho bà N, ông T số tiền gốc là 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng) thanh toán qua chuyển khoản vào ngày 22/02/2022 và thanh toán lãi xuất vay đều đặn hàng tháng tính từ khi vay cho đến nay bà T1 đã thanh toán được khoảng gần 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng); tại phiên hòa giải ngày 07 tháng 11 năm 2023 bà T1 có ý kiến số liệu và chứng cứ cụ thể bà T1 sẽ cung cấp sau, nhưng từ ngày 07/11/2023 đến khi xét xử sơ thẩm bà T1 không đến tòa án làm việc và không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào mặc dù ông L, bà T1 đã được triệu tập hợp lệ đến tòa án làm việc nhiều lần.
Bà T1 có ý kiến: Hiện nay bà đang mắc bệnh nên phải đi điều trị bệnh nặng tại các Bệnh viện nên không có khả năng thanh toán được tiền gốc và lãi cho bà N, ông T.
Nay bà T1 đề nghị bà N, ông T cho bà được trả số tiền gốc còn lại xin được trả mỗi tháng 10.000.000 đồng, không tính lãi suất hàng tháng. Vì lý do sức khỏe phải đi điều trị bệnh thường xuyên. Số tiền trả nợ này do bà T1 trực tiếp chịu trách nhiệm thanh toán cho ông T, bà N, ông Ngô Văn L không phải chịu trách nhiệm thanh toán số tiền nợ này cùng bà T1.
3. Tại bản tự khai và tại phiên hòa giải ngày 07 tháng 11 năm 2023 tại tòa án bị đơn ông Ngô Văn L trình bày như sau:
Việc vay nợ này của riêng vợ ông là bà Đỗ Thị T1 với vợ, chồng ông T, bà N, ông L không được biết và không tham gia ký kết, nên đây là việc vay nợ riêng của vợ ông với vợ chồng ông T, bà N. Vợ ông vay nợ khoản tiền trên để sử dụng vào việc gì ông không biết và không được bà T1 bàn bạc, bà T1 cũng không sử dụng số tiền vay này vào việc chi tiêu chung cho gia đình và cho cá nhân bản thân ông L.
Do việc vay nợ của vợ ông là bà Đỗ Thị T1 với ông Trương Bá T và bà Vũ Thị N, là việc vay nợ riêng của vợ ông nên ông L không ký kết, không tham gia, không được biết và không được chi tiêu, sử dụng số tiền này, gia đình ông cũng không biết và không được sử dụng đối với khoản vay này, nên ông L không đồng ý thanh toán khoản tiền này cùng vợ ông cho ông T, bà N. Việc thanh toán khoản nợ này do cá nhân bà T1 tự thu xếp trả nợ cho ông T, bà N.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 96; Khoản 1 Điều 147; Khoản 3 Điều 210; Điều 220; Khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 144; Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280; Điều 357; Điều 463; Điều 466; Khoản 1, khoản 2 Điều 468; Điều 469 của Bộ luật dân sự 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị N, ông Trương Bá T về việc buộc bà Đỗ Thị T1 phải trả số tiền nợ gốc đã vay và tiền lãi phát sinh.
- Buộc bà Đỗ Thị T1 phải có trách nhiệm trả nợ cho bà Vũ Thị N, ông Trương Bá T số tiền nợ gốc là 317.000.000 đồng (Ba trăm mười bảy triệu đồng) và tiền lãi là 122.609.000 đồng (Một trăm hai mươi hai triệu sáu trăm lẻ chín nghìn đồng). Tổng số tiền bà T1 phải trả cho bà Vũ Thị N, ông Trương Bá T là: 439.609.000₫ (Bốn trăm ba mươi chín triệu sáu trăm lẻ chín nghìn) đồng.
Ngoài ra Bản án còn tuyên nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.
* Ngày 21/02/2024, bà Đỗ Thị T1 kháng cáo bản án sơ thẩm, với nội dung: Tính đến ngày 16/9/2022 bà đã trả cho bà N, ông T số tiền 135.800.000đ, nên bà chỉ còn nợ vợ chồng bà N 241.200.000đ, nhưng Toà sơ thẩm buộc bà trả nợ cho vợ chồng bà N 317.000.000đ là chưa chính xác, đề nghị xem xét lại bản án sơ thẩm để bà đỡ thiệt thòi.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên kháng cáo.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- + Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử, thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của bộ luật tố tụng Dân sự; Các đương sự đã thực hiện đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.
- + Về nội dung và quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, khoản 2 Điều 148 BLTTDS; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Đề nghị HĐXX: Sửa Bản án sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh, tỉnh Thanh Hóa theo hướng: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Đỗ Thị T1. Sửa tiền gốc và lãi xuất và án phí DSST của bản án sơ thẩm. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm bà T1 phải trả tiền gốc và lãi cho bà N, ông T là 350.038.093 đồng (gốc 274.524.934 đồng, lãi 75.513159 đồng).
- + Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bà Đỗ Thị T1 không phải chịu án phí DSPT, bà T1 chỉ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 17.501.000 đồng.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng:
1.1. Về chủ thể kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Đỗ Thị T1 là bị đơn, có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Đơn kháng cáo làm trong hạn luật định, nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
1.2. Về việc vắng mặt đương sự: Bà Đỗ Thị T1 là bị đơn xin xét xử vắng mặt, ông Ngô Văn L vắng mặt nhưng không liên quan đến trách nhiệm trả nợ và không kháng cáo, nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bà Đỗ Thị T1 thấy rằng:
Căn cứ vào giấy vay tiền đề ngày 02/02/2022 thể hiện bà Đỗ Thị T1 có vay của vợ chồng bà N, ông T số tiền là 377.000.000 đồng (Ba trăm bảy bảy triệu đồng), trong hợp đồng có thỏa thuận vay tiền lãi suất 2%/tháng nhưng không có thời hạn trả nợ, người vay tiền bà Đỗ Thị T1 ký nhận. Quá trình giải quyết vụ án bà T1 thừa nhận việc vay tiền như bà N và ông T trình bày là đúng, nhưng vay với lãi suất khi vay là 1000 đồng/1.000.000 đồng/ngày là 3%/tháng (36%/năm). Tính từ khi vay đến nay bà T1 đã trả được cho bà N, ông T số tiền gốc là 60.000.000đ (Sáu mươi triệu
đồng) thanh toán qua chuyển khoản vào ngày 22/02/2022 và thanh toán lãi xuất vay đều đặn hàng tháng tính từ khi vay cho đến nay bà T1 đã thanh toán được khoảng gần 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng).
Ở giai đoạn xử sơ thẩm, bà T1 không đến tòa án làm việc và không cung cấp được tài liệu, chứng cứ thể hiện việc đã trả tiền lãi hàng tháng cho bà N, ông T, nên Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định : Buộc bà Đỗ Thị T1 phải có trách nhiệm trả nợ cho bà Vũ Thị N, ông Trương Bá T số tiền nợ gốc là 317.000.000 đồng (Ba trăm mười bảy triệu đồng) và tiền lãi là 122.609.000 đồng (Một trăm hai mươi hai triệu sáu trăm lẻ chín nghìn đồng). Tổng số tiền bà T1 phải trả cho bà Vũ Thị N, ông Trương Bá T là: 439.609.000₫ (Bốn trăm ba mươi chín triệu sáu trăm lẻ chín nghìn) đồng.
Sau khi xử sơ thẩm bà T1 kháng cáo và gửi kèm đơn kháng cáo là 07 chứng từ bà chuyển khoản tiền lãi cho bà N từ ngày 08/3/2022 đến ngày 16/9/2022 = 75.800.000 đồng.
Mức lãi xuất bị đơn nại là phải trả cho các nguyên đơn 1000 đồng/1.000.000 đồng/ngày là 3%/tháng (tức là 30%/năm) là không có căn cứ vì hai bên thoả thuận trong giấy vay tiền lãi suất 2%/ tháng (tức 24% năm). Tuy nhiên, mức lãi xuất thoả thuận này cũng vượt 20% (mức tối đa quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS 2015 là 20% năm), do đó phần vượt mức tối đa không có hiệu lực pháp luật. Bên bị đơn đề nghị tất cả khoản tiền đã trả được trừ vào nợ gốc, nhưng hai bên thừa nhận đây là tiền chuyển khoản trả lãi. Do đó, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Đỗ Thị T1 điều chỉnh lại tiền lãi của 07 lần chuyển khoản để tính mức phù hợp theo pháp luật, khoản tiền vượt lãi sẽ được trừ vào tiền gốc các thời điểm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn đề nghị tính lãi suất 20% năm là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS 2015 nên được chấp nhận. Hai bên thống nhất ngày 22/02/2022 bà T1 còn nợ bà N, ông T 317.000.000 đồng tiền gốc, nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ ngày 22/02/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 01/02/2024 với lãi suất 20% năm. Cụ thể:
- Từ ngày 22/02/2022 đến ngày 08/3/2022 (14 ngày). Ngày 08/3/2022 bà T1 trả bà N 11.200.000 đồng. Tiền lãi bà T1 trả cho bà N như sau: 317.000.000 đồng x 14 ngày x 20%/365 ngày = 2.431.780 đồng tiền lãi. Do đó số tiền còn lại: 11.200.000 đồng – 2.431.780 đồng = 8.768.220 đồng được trừ vào gốc. Gốc còn lại là: 317.000.000 đồng - 8.768.220 đồng = 308.231.780 đồng.
- Từ ngày 08/3/2022 đến ngày 08/4/2022 (31 ngày). Ngày 08/4/2022 bà T1 trả bà N 11.000.000 đồng. Tiền lãi bà T1 trả cho bà N như sau: 308.231.780 đồng x 31 ngày x 20%/365 ngày = 5.235.717 đồng tiền lãi. Do đó số tiền còn lại: 11.000.000 đồng – 5.235.717 đồng = 5.764.283 đồng được trừ vào gốc. Gốc còn lại là: 308.231.780 đồng - 5.764.283 đồng = 302.467.497 đồng.
- Từ ngày 08/4/2022 đến ngày 09/5/2022 (31 ngày). Ngày 09/5/2022 bà T1 trả bà N 11.000.000 đồng. Tiền lãi bà T1 trả cho bà N như sau: 302.467.497 đồng x 31 ngày x 20%/365 ngày = 5.137.804 đồng tiền lãi. Do đó số tiền còn lại: 11.000.000 đồng – 5.137.804 đồng = 5.862.196 đồng được trừ vào gốc. Gốc còn lại là: 302.467.497 đồng - 5.862.196 đồng = 296.605.301 đồng
- Từ ngày 09/5/2022 đến ngày 11/6/2022 (33 ngày). Ngày 11/6/2022 bà T1 trả bà N 11.000.000 đồng. Tiền lãi bà T1 trả cho bà N như sau: 296.605.301 đồng x 33 ngày x 20%/365 ngày = 5.363.273 đồng tiền lãi. Do đó số tiền còn lại: 11.000.000 đồng – 5.363.273 đồng = 5.636.727 đồng được trừ vào gốc. Gốc còn lại là: 296.605.301 đồng - 5.636.727 đồng = 290.968.574 đồng.
- Từ ngày 11/6/2022 đến ngày 11/7/2022 (30 ngày). Ngày 11/7/2022 bà T1 trả bà N 11.000.000 đồng. Tiền lãi bà T1 trả cho bà N như sau: 290.968.574 đồng x 30 ngày x 20%/365 ngày = 4.783.045 đồng tiền lãi. Do đó số tiền còn lại: 11.000.000 đồng – 4.783.045 đồng = 6.216.955 đồng được trừ vào gốc. Gốc còn lại là: 290.968.574 đồng - 6.216.955 đồng = 284.751.619 đồng
- Từ ngày 11/7/2022 đến ngày 18/8/2022 (38 ngày). Ngày 18/8/2022 bà T1 trả bà N 11.000.000 đồng. Tiền lãi bà T1 trả cho bà N như sau: 284.751.619 đồng x 38 ngày x 20%/365 ngày = 5.929.074 đồng tiền lãi. Do đó số tiền còn lại: 11.000.000 đồng – 5.929.074 đồng = 5.070.926 đồng được trừ vào gốc. Gốc còn lại là: 284.751.619 đồng - 5.070.926 đồng = 279.680.693 đồng.
- Từ ngày 18/8/2022 đến ngày 16/9/2022 (29 ngày). Ngày 16/9/2022 bà T1 trả bà N 9.600.000 đồng. Tiền lãi bà T1 trả cho bà N như sau: 279.680.693 đồng x 29 ngày x 20%/365 ngày = 4.444.241 đồng tiền lãi. Do đó số tiền còn lại: 9.600.000 đồng – 4.444.241 đồng = 5.155.759 đồng được trừ vào gốc. Gốc còn lại là: 279.680.693 đồng - 5.155.759 đồng = 274.524.934 đồng.
- Từ ngày 17/9/2022 đến ngày 01/02/2024 là 01 năm 137 ngày = 502 ngày. Tiền lãi bà T1 phải trả lãi cho bà N là: 274.524.934 đồng x 502 ngày x 20%/365 ngày = 75.513.159 đồng.
=> Như vậy, tính đến ngày 01/02/2024, bà T1 còn phải trả cho bà N là: 274.524.934 đồng tiền gốc, 75.513.159 đồng tiền lãi. Tổng cộng cả gốc và lãi là: 350.038.000 đồng (làm tròn số).
[3] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của bà Đỗ Thị T1 được chấp nhận, nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại tiền tạm án phí DSPT đã nộp cho bà Đỗ Thị T1. Do số tiền bà T1 phải trả cho bà N, ông T được án phúc thẩm điều chỉnh nên án phí dân sự sơ thẩm cũng phải sửa cho phù hợp.
Vì các lẽ trên
Căn cứ Khoản 1 Điều 228; Khoản 2 Điều 308, Điều 309; Khoản 2 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Đỗ Thị T1. Sửa bản án sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc.
- Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 144 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280; Điều 357; Điều 463; Điều 466; Khoản 1, khoản 2 Điều 468; Điều 469 của Bộ luật dân sự 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị N, ông Trương Bá T về việc buộc bà Đỗ Thị T1 phải trả số tiền nợ gốc đã vay và tiền lãi phát sinh.
- Buộc bà Đỗ Thị T1 phải có trách nhiệm trả nợ cho bà Vũ Thị N, ông Trương Bá T số tiền nợ gốc là: 274.524.934 đồng (Hai trăm bảy tư triệu năm trăm hai tư nghìn chín trăm ba tư đồng) và tiền lãi là: 75.513.159 đồng (Bảy mươi lăm triệu năm trăm mười ba nghìn một trăm năm chín đồng). Tổng số tiền bà T1 phải trả cho bà Vũ Thị N, ông Trương Bá T (làm tròn số) là: 350.038.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu không trăm ba tám nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật và người có quyền thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nói trên thì phải chịu thêm lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án tính từ ngày 02/02/2024, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
- Về án phí:
Bà T1 phải chịu 17.501.000 án phí dân sự sơ thẩm. Bà T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại tiền tạm án phí 300.000đ đã nộp cho bà T1, theo biên lai thu số số 0006068, ngày 27/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lộc.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự và điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án.
5. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Dung |
Bản án số 55/2024/DS-PT ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hđ vay tài sản
- Số bản án: 55/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HĐ vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà N kiện đòi tài sản bà T1
