|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC TỈNH QUẢNG NAM *** |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2024/HS-ST Ngày: 20/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Mậu Thảo
- Bà Nguyễn Thị Mừng
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt Sương
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- 1/ Họ và tên: Nguyễn Trọng T - Giới tính: nam; Tên gọi khác: Cu E; Sinh ngày 15 tháng 10 năm 1988 tại Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Hiện trú tại: thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Nguyễn Ngọc T1 (sinh năm: 1955) và bà Trần Thị N (sinh năm: 1956), hiện đều làm nông và trú tại thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Bị cáo là con út trong gia đình có 04 chị em. Vợ: Ngô Thị N1 (sinh năm: 1987, đã ly hôn). Bị cáo có 02 con, sinh năm 2009 và 2013.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 22/5/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, được trừ 02 tháng tạm giam, còn phải chấp hành 10 tháng. Thời gian thử thách là 20 tháng về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 1999.
- Ngày 13/6/2019, bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe người khác”.
- Ngày 18/9/2020, bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.000.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng có mang theo vũ khí thô sơ”.
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 08/9/2023, chuyển tạm giam ngày 15/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Đ;có mặt tại phiên toà.
2/ Họ và tên: Bùi Quốc C - Giới tính: nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 29 tháng 10 năm 1991 tại Đ, Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Bùi Văn L (chết) và bà Lương Thị M (sinh năm: 1963), hiện làm nông và trú tại thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Bị cáo là con út trong gia đình có 02 anh em, chưa có vợ con;
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 27/6/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999.
- Ngày 27/9/2018, bị Công an huyện N, tỉnh Quảng Nam xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Ngày 19/9/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tổng hợp hình phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hình phạt phải chấp hành là 30 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 21/6/2021.
Bị cáo bị bắt truy nã ngày 07/5/2024, chuyển tạm giam ngày 10/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Đ; có mặt tại phiên toà.
* Những người tham gia tố tụng:
- Các bị cáo:
- Nguyễn Trọng T; Tên gọi khác: Cu E; Sinh ngày 15 tháng 10 năm 1988 Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Hiện trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.
- Bùi Quốc C ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20 tháng 10 năm 1991 Sinh, trú quán: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Xuân P, sinh năm 2003, vắng. Trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.
- Lê Đức K, sinh năm 1985, vắng. Trú tại: Thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.
- Trần Ngọc H, sinh năm 1984, vắng. Trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.
- Nguyễn Thiện N2, sinh năm 2009, vắng. Trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.
- Ngô Quốc N3, sinh năm 2002, vắng. Trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam
- Tạ Văn V, sinh năm 2000; vắng. Trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam
* Người làm chứng:
- Bùi Văn H1, sinh năm 1966, có mặt. Trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 08/9/2023, Nguyễn Trọng T thuê xe taxi đi từ nhà mình tại thôn N, xã Đ, huyện Đ đến khu vực Cầu S tại xã Đ, thị xã Đ để mua ma túy. Tại đây, T gặp và mua của một người thanh niên tên L1 (không xác định được lai lịch) 01 gói ma túy đá với số tiền 4.500.000 đồng (theo lời khai của T). T mang gói ma tuý trên về nhà tại thôn N, xã Đ, huyện Đ rồi sử dụng cân điện tử, ống hút, túi ni lông, bật lửa phân chia gói ma túy đã mua được ra làm nhiều gói nhỏ nhằm mục đích bán lại cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng ma túy để kiếm lời.
Khoảng 11 giờ 30 cùng ngày, Tạ Văn V (sinh năm: 2000, trú N, xã Đ, huyện Đ) đến nhà T để mua ma túy đá về sử dụng. Tại đây, V gặp T ở hiên nhà và đưa T 300.000 đồng thì T chỉ gói ma túy mà T để dưới nền đất, V nhặt gói ma túy và mang đến khu vực bãi bồi ven sông V và một mình sử dụng hết.
Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Ngô Quốc N3 (sinh năm: 2002, trú L, xã Đ, huyện Đ) đi bộ một mình đến nhà T để mua ma túy. Sau khi gặp và trao đổi về việc mua bán ma túy. T bán cho N3 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N3 mang gói ma túy đến rừng keo gần đó một mình sử dụng hết.
Tiếp đến, khoảng 13 giờ cùng ngày, Nguyễn Xuân P (sinh năm: 2003, trú thôn N, xã Đ, huyện Đ) đi bộ đến nhà T để mua ma túy về sử dụng. Sau khi thống nhất số tiền mua ma túy, T đưa 01 gói ma túy có kích thước (01x2,5) cm cho P, P đưa cho T số tiền 250.000 đồng. Khi P vừa nắm gói ma túy trong tay và chuẩn bị ra về thì thì bị Tổ công tác của Công an huyện Đ bắt quả tang, tạm giữ gói ma túy của P và số tiền 250.000 đồng của T. Đồng thời, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trọng T. Qua test nhanh xác định T dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Nguyễn Trọng T, Bùi Quốc C và Nguyễn Xuân P khai nhận: vào khoảng 09 giờ ngày 06/9/2023, khi T đang ở nhà tại thôn N, xã Đ, huyện Đ thì Bùi Quốc C đến nhà T chơi. Lúc này, Nguyễn Xuân P gọi điện thoại cho T thì C nghe máy. Phỏi C: “T đang ở đâu”? C trả lời “đang ngủ” thì P tắt máy. Khoảng 15 phút sau. P đi đi bộ đến nhà T để hỏi mua ma túy đá. Sau khi T và P trao đổi về việc mua bán ma túy bên hông nhà thì T nói C đưa gói ma túy đá mà T đã để sẵn trên bàn trong phòng khách cho P. C biết rõ đó là gói ma túy mà T bán cho P nhưng vẫn đồng ý lấy gói ma túy và đi ra đưa cho P. Sau khi nhận gói ma túy từ C, P đưa cho T số tiền 300.000 đồng rồi mang gói ma túy đi vào khu vực rừng keo thôn N, xã Đ một mình sử dụng hết. Về nguồn gốc gói ma túy đá mà T bán cho P, T khai nhận vào ngày 05/9/2024, T thuê xe ôm đến khu vực Cầu S xã Đ, thị xã Đ mua 01 gói ma túy đá của người thanh niên tên L1 giá 300.000 đồng rồi mang về nhà mình sử dụng, số còn lại thì dùng bật lửa hàn lại rồi bán cho P.
Ngoài ra, vào ngày 12/8/2023 và ngày 17/8/2023 T còn có 02 lần khác bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng, cụ thể như sau:
Sáng ngày 11/8/2023, T thuê xe ôm đi từ thôn N, xã Đ, huyện Đ đến khu vực cầu S xã Đ, thị xã Đ mua 01 gói ma túy đá của người thanh niên tên L1 với số tiền 300.000 đồng rồi mang về nhà mình phân thành 02 gói nhỏ mục đích để bán lại kiếm lời. Đến khoảng 10 giờ ngày 12/8/2023, Lê Đức K (sinh năm: 1988, trú thôn M, xã Đ, huyện Đ) trực tiếp đến nhà T tại thôn N, xã Đ, huyện Đ để gặp T liên hệ mua ma túy về sử dụng. Tại đây, K nói với T bán cho K 200.000 đồng ma túy. T đưa cho K 01 gói ma túy đá, K đưa T 200.000 đồng rồi K đem gói ma túy đến khu vực bìa rừng xã Đ, huyện Đ một mình sử dụng hết.
Đến khoảng 21 giờ ngày 17/8/2023, Trần Ngọc H (sinh năm: 1988, trú thôn T, xã Đ, huyện Đ) muốn sử dụng ma túy và biết việc T có bán ma túy nên H thuê xe ôm từ nhà mình đến nhà T tại thôn N, xã Đ, huyện Đ để gặp T liên hệ mua ma túy về sử dụng. Tại đây, H nói với T bán 300.000 đồng ma túy. T đưa cho H 01 gói ma túy đá mà T đã phân ra vào ngày 11/8/2023, H đưa T 300.000 đồng rồi H đem gói ma túy đến khu vực cánh đồng xã Đ, huyện Đ một mình sử dụng hết.
Tại bảng kết luận giám định số 1893/KL-KTHS ngày 15/9/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng đã kết luận:
- “Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong gói ni lông trong suốt, dạng ống hút nhựa hai đầu được hàn kín, kích thước (01x2,5)cm là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,06 gam;
- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong gói ni lông trong suốt, loại túi zip, kích thước (04x07)cm là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 6,14 gam;
- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong 12 gói ni lông trong suốt, dạng ống hút nhựa hai đầu được hàn kín, kích thước dài ngắn khác nhau đều là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,28 gam;
- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong gói ni lông trong suốt, dạng ống hút nhựa hai đầu được hàn kín, kích thước (01x03)cm là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,31 gam;
Tổng khối lượng chất ma túy Methamphetamine là 8,79 gam”.
*Vật chứng của vụ án thu giữ được:
- 01 bộ dụng cụ tự chế để sử dụng ma túy;
- 03 cái kéo, trong đó có 02 cái kéo có cán bằng kim loại và 01 cái kéo có cán bằng nhựa màu xanh;
- 01 gói ni lông trong suốt có kích thước (01x2,5) cm, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể, nghi là ma túy; 01 gói ni lông trong suốt, kích thước (01x03) cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng, dạng tinh thể nghi là chất ma túy; 01 lọ viên sủi màu xanh, nắp màu vàng bên trong chứa 01gói ni lông, loại túi zip, trong suốt, kích thước (04x07) cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng, dạng tinh thể nghi là chất ma túy và 12 gói ni lông trong suốt, kích thước khác nhau, bên trong chứa chất rắn màu trắng, dạng tinh thể nghi là chất ma túy. Các mẫu vật sau khi giám định đã hoàn lại đối tượng giám định được niêm phong trong phong bì số 1893/KL-KTHS của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng.
- 06 ống hút bằng nhựa màu trắng;
- 01 cân điện tử tiểu ly;
- 52 gói ni lông, loại túi zip rỗng, không chứa gì bên trong;
- 04 bật lửa, trong đó có hai bật lửa màu đỏ, 02 bật lửa trong suốt;
- 01 ống nhựa màu đen dùng để chia chất ma túy;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A32, màu xanh, số seri RF8RB1K5T5L, số IMEI: 355870668214684, bên trong có gắn sim số 0397466446.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, bàn phím số, số IMEI1: 353482151482869. Bên trong có gắn sim số 0969704146.
(Các vật chứng trên đã được niêm phong và hiện do Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ quản lý).
Tiền ngân hàng N4: 24.150.000 đồng gồm nhiều mệnh giá khác nhau. (Đã gửi tại Kho bạc nhà nước huyện Đ).
Quá trình điều tra, bị cáo, Nguyễn Trọng T, Bùi Quốc C đã tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại cáo trạng số 45/CT-VKSĐL ngày 16/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc truy tố bị cáo Nguyễn Trọng T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 và bị cáo Bùi Quốc C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Trọng T, Bùi Quốc C và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt bị cáo Nguyễn Trọng T từ 08 (tám) năm đến 09 ( chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt bị cáo Bùi Quốc C từ 30 (ba mươi) tháng tù đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng khai nhận nội dung vụ án như lời khai của bị cáo, phù hợp với nội dung cáo trạng truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình mà đã được Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phổ biến về quyền, nghĩa vụ của mình trong từng giai đoạn tố tụng và tự khai báo về hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về tội danh và khung hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Trọng T và bị cáo Bùi Quốc C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử có cơ sở xác định được:Trong thời gian từ ngày 12/8/2023 đến ngày 08/9/2023, tại nhà của mình tại thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Nguyễn Trọng T đã có 06 lần bán trái phép chất ma túy cho Trần Ngọc H, Lê Đức K, Tạ Văn V, Ngô Quốc N3 và Nguyễn Xuân P với tổng số tiền là 1.650.000 đồng. Trong đó, Bùi Quốc C có 01 lần giúp sức cho Nguyễn Trọng T bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Xuân P vào ngày 06/9/2023 với số tiền 300.000 đồng.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc truy tố đối với bị cáo T và bị cáo C là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo thì thấy: Nguyễn Trọng T và bị cáo Bùi Quốc C là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, hiểu biết pháp luật. Bị cáo T, C biết rõ tác hại vô cùng nguy hiểm của chất ma tuý, biết rõ Nhà nước nghiêm cấm hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, nếu vi phạm sẽ bị pháp luật xử lý. Nhưng các bị cáo đã bất chấp các tác hại của chất ma tuý, sự lên án của xã hội, sự nghiêm trị của pháp luật đã có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây nên sự bất ổn trong cộng đồng dân cư, gây ra sự hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Hơn nữa, bị cáo T và bị cáo C có nhân thân xấu, bị cáo C bị bắt theo lệnh truy nã. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo một cách nghiêm minh bằng cách áp dụng hình phạt tù để cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo nhận tội, tỏ ra biết ăn năn hối cải. Bị cáo Bùi Quốc C có ông nội là Liệt sĩ. Bị cáo T là lao động chính gia đình đang nuôi 02 con nhỏ. Do đó, Nguyễn Trọng T và Bùi Quốc C được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là phù hợp.
[2.3] Về vật chứng: HĐXX cần áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
- Tuyên tịch thu tiêu hủy và sung công Nhà nước các vật chứng sau:
- 01 bộ dụng cụ tự chế để sử dụng ma túy;
- 03 cái kéo, trong đó có 02 cái kéo có cán bằng kim loại và 01 cái kéo có cán bằng nhựa màu xanh;
- 01 gói ni lông trong suốt có kích thước (01x2,5) cm, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể, nghi là ma túy; 01 gói ni lông trong suốt, kích thước (01x03) cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng, dạng tinh thể nghi là chất ma túy; 01 lọ viên sủi màu xanh, nắp màu vàng bên trong chứa 01gói ni lông, loại túi zip, trong suốt, kích thước (04x07) cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng, dạng tinh thể nghi là chất ma túy và 12 gói ni lông trong suốt, kích thước khác nhau, bên trong chứa chất rắn màu trắng, dạng tinh thể nghi là chất ma túy. Các mẫu vật sau khi giám định đã hoàn lại đối tượng giám định được niêm phong trong phong bì số 1893/KL-KTHS của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng.
- 06 ống hút bằng nhựa màu trắng;
- 01 cân điện tử tiểu ly;
- 52 gói ni lông, loại túi zip rỗng, không chứa gì bên trong;
- 04 bật lửa, trong đó có hai bật lửa màu đỏ, 02 bật lửa trong suốt;
- 01 ống nhựa màu đen dùng để chia chất ma túy;
- Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước các vật chứng sau:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, bàn phím số, số IMEI1: 353482151482869. Bên trong có gắn sim số 0969704146.
- Tịch thu sung công số tiền 1.650.000 (một triệu sáu trăm năm mươi ngàn) đồng; (số tiền này nằm trong số tiền 24.150.000 đồng đã nộp vào tài khoản số 3941.0.1053629 của Công an huyện Đ ngày 02/12/2023)
- Tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Trọng T các vật chứng sau:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A32, màu xanh, số seri RF8RB1K5T5L, số IMEI: 355870668214684, bên trong có gắn sim số 0397466446.
- Tiền ngân hàng N4: 22.500.000 (hai mươi hai triệu năm trăm ngàn) đồng (hiện đã gửi tại Kho bạc nhà nước huyện Đ, nộp vào tài khoản số 3941.0.1053629 của Công an huyện Đ ngày 02/12/2023).
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 24.150.000 đồng của của bị cáo T đã được chuyển vào Kho bạc Nhà nước huyện Đ nộp vào tài khoản số 3941.0.1053629 của công an huyện Đ ngày 02/12/2023); để đảm bảo thi hành án.
(Các vật chứng trên đã được niêm phong và hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Lộc quản lý).
* Các vấn đề khác trong vụ án:
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Trọng T, Bùi Quốc C, Trần Ngọc H,Lê Đức K, Tạ Văn V,Ngô Quốc N3và Nguyễn Xuân P,Công an huyện Đxửphạtvi phạm hành chính là có cơ sở.
- Đối với người thanh niên tên L1 bán ma túy cho Nguyễn Trọng T gần khu vực Cầu S xã Đ, thị xã Đ. Qua điều tra, không xác định nhân thân, lai lịch của người bán ma túy cho T nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không có cơ sở xử lý là phù hợp.
[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trọng T và bị cáo Bùi Quốc C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- + Áp dụng: Điểm b, i khoản 2 Điều 251, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Trọng T. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS đối với bị cáo Bùi Quốc C.
- * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 và bị cáo Bùi Quốc C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251.
- * Xử phạt:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 08 (tám) năm tù.
- Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo Nguyễn Trọng T bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/9/2023.
- - Xử phạt bị cáo Bùi Quốc C 36 (ba mươi sáu) tháng tù.
- Thời gian chấp hành án phạt tù, tính từ ngày bị cáo Bùi Quốc C bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 07 tháng 5 năm 2024.
- * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
- 01 bộ dụng cụ tự chế để sử dụng ma túy;
- 03 cái kéo, trong đó có 02 cái kéo có cán bằng kim loại và 01 cái kéo có cán bằng nhựa màu xanh;
- 01 gói ni lông trong suốt có kích thước (01x2,5) cm, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể, nghi là ma túy; 01 gói ni lông trong suốt, kích thước (01x03) cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng, dạng tinh thể nghi là chất ma túy; 01 lọ viên sủi màu xanh, nắp màu vàng bên trong chứa 01gói ni lông, loại túi zip, trong suốt, kích thước (04x07) cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng, dạng tinh thể nghi là chất ma túy và 12 gói ni lông trong suốt, kích thước khác nhau, bên trong chứa chất rắn màu trắng, dạng tinh thể nghi là chất ma túy. Các mẫu vật sau khi giám định đã hoàn lại đối tượng giám định được niêm phong trong phong bì số 1893/KL-KTHS của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng.
- 06 ống hút bằng nhựa màu trắng;
- 01 cân điện tử tiểu ly;
- 52 gói ni lông, loại túi zip rỗng, không chứa gì bên trong;
- 04 bật lửa, trong đó có hai bật lửa màu đỏ, 02 bật lửa trong suốt;
- 01 ống nhựa màu đen dùng để chia chất ma túy;
- - Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước các vật chứng sau:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, bàn phím số, số IMEI1: 353482151482869. Bên trong có gắn sim số 0969704146.
- Tịch thu sung công số tiền 1.650.000 (một triệu sáu trăm năm mươi ngàn) đồng; (số tiền này nằm trong số tiền 24.150.000 đồng đã nộp vào tài khoản số 3941.0.1053629 của Công an huyện Đ ngày 02/12/2023)
- - Tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Trọng T các vật chứng sau:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A32, màu xanh, số seri RF8RB1K5T5L, số IMEI: 355870668214684, bên trong có gắn sim số 0397466446.
- Tiền ngân hàng N4: 22.500.000 (hai mươi hai triệu năm trăm ngàn) đồng (hiện đã gửi tại Kho bạc nhà nước huyện Đ, nộp vào tài khoản số 3941.0.1053629 của Công an huyện Đ ngày 02/12/2023).
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 24.150.000 đồng của của bị cáo T đã được chuyển vào Kho bạc Nhà nước huyện Đ nộp vào tài khoản số 3941.0.1053629 của công an huyện Đ ngày 02/12/2023); để đảm bảo thi hành án.
(Các vật chứng trên đã được niêm phong và hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Lộc quản lý).
- - Tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
- * Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Trọng T và bị cáo Bùi Quốc C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- * Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Q.Nam; - VKSND H. Đại Lộc; - Công an H; - Bị cáo, bị hại, người TGTT khác; - Chi cục THADS H.Đại Lộc; - Vụ GDDKT1 – TANDTC; - Lưu hồ sơ; |
TM. HỘI ĐÔNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Hồng Phượng |
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC TỈNH QUẢNG NAM về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Trong Thien
