TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2024/HS-ST Ngày 04 – 7 – 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Xuân Miễn
Thẩm phán: Ông Nguyễn Trọng Quế
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kim Hợi
Ông Trần Minh Hoàng
Ông Hoàng Anh Lý
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Vũ Phong, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Dẽ - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Lê Thành C, sinh ngày 19/02/1994 tại tỉnh Cà Mau.
Nơi cư trú: Ấp Bào Sơn, xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Đo đạc, xây dựng; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thành Th và bà Phan Thị Lo; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 07/3/2024; có mặt.
Nhân thân: + Ngày 21/7/2018, bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau khởi tố, bắt tạm giam về tội “Hiếp dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự, ngày 08/8/2018 do bị hại rút yêu cầu, đến ngày 17/8/2018 Công an thành phố Cà Mau ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can và hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đối với Lê Thành C.
+ Ngày 28/8/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau ra Quyết định số 411/QĐ-XPVPHC đối với hành vi chiếm giữ tài sản trái phép của người khác và xử phạt 3.700.000 đồng, đã nộp xong ngày 29/8/2018.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Xuân Ký là luật sư của Công ty Luật TNHH Luật sống thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau; có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1987; nơi cư trú: Số 138A, đường Trường Sa, phường 15, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2021, thông qua mối quan hệ bạn bè, đi chơi chung Lê Thành C quen biết ông Nguyễn Tiến Đ. C giới thiệu là Giám đốc Công ty TNHH MTV xây dựng, thương mại và dịch vụ Lê Thành. Vào tháng 8/2022, do nhu cầu tiền chi tiêu cá nhân nên C nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông Đ. C nói dối là Công ty có nhiều dự án đang cần vốn, C nhận hợp đồng sửa chữa các công trình, cần vốn mua vật tư và thiết bị để thi công, đầu tư mua đất bán lại để kiếm lời nên mời ông Đ hùn vốn đầu tư. C thoả thuận khi ông Đ đầu tư C sẽ trả lãi cho ông Đ 0,9%/tháng, sau khi công trình hoàn thành, thu hồi vốn trả lại cho ông Đ và chia lợi nhuận cho ông Đ. Tin là thật nên ông Đ chuyển tiền hùn vốn với C nhiều lần với tổng số tiền 5.710.000.000đ, cụ thể:
Lần thứ nhất: Ngày 16/8/2022, C đưa ra thông tin công ty có nhận công trình duy tu, sửa chữa trường học ở huyện Đầm Dơi, ông Đ chuyển hùn vốn cho C số tiền 300.000.000đ.
Lần thứ hai: Ngày 31/8/2022, C đưa ra thông tin cần tiền mua phần đất tọa lạc tại ấp Tân Quảng A, xã Nguyễn Việt Khái, huyện Phú Tân, Cà Mau, ông Đ chuyển hùn vốn cho C số tiền 1.000.000.000đ.
Lần thứ ba: Ngày 05/9/2022, C đưa ra thông tin công ty có nhận công trình sửa chữa công trình trường học ở huyện Cái Nước, ông Đ chuyển hùn vốn cho C số tiền 500.000.000đ.
Lần thứ tư: Ngày 10/9/2022, C đưa ra thông tin cần tiền mua phần đất tọa lạc tại ấp Phần Thanh, xã Thanh Phú, huyện Cái Nước, Cà Mau, ông Đ chuyển hùn vốn cho C số tiền 700.000.000đ.
Lần thứ năm: Ngày 12/9/2022, C đưa ra thông tin công ty có nhận công trình duy tu, sửa chữa trường học và sửa chữa Tòa án huyện Cái Nước, huyện Phú Tân, ông Đ chuyển hùn vốn cho C số tiền 570.000.000đ.
Lần thứ sáu: Ngày 21/9/2022, C đưa ra thông tin cần tiền mua phần đất tọa lạc tại ấp Minh Trung, xã An Minh Bắc, huyện U Minh Thượng, Kiên Giang, ông Đ chuyển hùn vốn số tiền 670.000.000đ.
Lần thứ bảy: Ngày 30/9/2022, C đưa ra thông tin công ty có nhận công trình duy tu, sửa chữa trường học ở huyện Đầm Dơi, ông Đ chuyển hùn vốn cho C số tiền 150.000.000đ.
Lần thứ tám: Ngày 18 và 21/10/2022, C đưa ra thông tin công ty có nhận công trình làm 07 trụ điện cho công trình điện gió Vĩnh Châu - tỉnh Sóc Trăng, ông Đ chuyển hùn vốn cho C số tiền 450.000.000đ (chuyển lần 01: 04 trụ điện số tiền 200.000.000đ, lần 2: 03 trụ điện số tiền 250.000.000₫).
Ngoài ra, C còn nói dối với ông Đ cần tiền đầu tư như: Mới mua dãy nhà trọ, làm thủ tục; cần tiền để nộp vào kho bạc để kho bạc đẩy hồ sơ giải quyết sớm; cần tiền mua đất ở phường 8 và mua máy móc, thiết bị đầu tư nhiều công trình khác ... ông Đ đã chuyển cho C nhiều lần tổng số tiền 1.370.000.000đ.
Đến thời điểm trả lãi C hứa hẹn nhiều lần nên C và ông Đ thoả thuận thống nhất đến ngày hoàn trả tiền vốn và chia lợi nhuận. Đến ngày 19/7/2023 là ngày hoàn trả vốn, lãi thì lúc này C thừa nhận những công trình và việc mua bán đất là nói dối, mục đích để ông Đ đưa tiền, C đã chiếm đoạt sử dụng vào việc trả nợ vay, đóng lãi và tiêu xài cá nhân nên ông Đ tố giác đến Cơ quan Công an.
Cáo trạng số 47/CT-VKS-P1 ngày 03 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đã truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau:
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thành C từ 13 năm đến 15 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Buộc bị cáo hoàn trả lại số tiền 5.710.000.000₫ cho ông Nguyễn Tiến Đ; Tiếp tục thu giữ 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone 6s plus, số máy MKV82LLIA, số seerri F2PQM8Q2RWV, 01 (một) sim số vinaphone 0916.979.xxx đã qua sử dụng để bảo đảm việc Thi hành án; Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) con dấu tròn ký hiệu: “M.S.D.N 2001362711 - C.T.T.N.H.H, TP Cà Mau, T. Cà Mau” và 01 (một) con dấu tên Lê Thành C.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo luôn thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; Bị cáo có ông nội tham gia cách mạng được tặng Huân chương; Tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Yêu cầu Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt ở mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị.
- Bị cáo: Thống nhất với lời bào chữa của luật sư; Bị cáo xin lỗi bị hại, xin bị hại tha thứ; xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
- Bị hại: Yêu cầu bị cáo trả lại tiền; xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Năm 2021, thông qua quan hệ bạn bè, bị cáo C và bị hại Đ biết nhau. C cho biết C là Giám đốc Công ty TNHH MTV xây dựng, thương mại và dịch vụ Lê Thành có nhiều dự án cần vốn đầu tư. Tháng 8/2022, do cần tiền chi tiêu cho mục đích cá nhân nên C đã đưa ra thông tin gian dối là C đang nhận nhiều công trình duy tu, sửa chữa Trường học, Cơ quan nhà nước, mua đất bán có lãi nên cần tiền đầu tư nếu bị hại Đ đầu tư sẻ được trả lãi 0,9%/tháng, sau khi công trình hoàn thành, thu hồi vốn trả lại vốn và chia lợi nhuận. Tin là thật nên ông Đ chuyển tiền đầu tư nhiều lần, với tổng số tiền 5.710.000.000đ. Đến ngày hẹn trả lãi và vốn thì C không có tiền để trả nên đã thừa nhận toàn bộ những thông tin mà C nói với ông Đ là gian dối. Mục đích lừa gạt ông Đ để chiếm đoạt tiền chi tiêu cho mục đích cá nhân khác. Ngày 30/9/2023 ông Đ có đơn tố giác C đến Cơ quan điều tra. Từ những tình tiết tiết trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố Lê Thành C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[3] Về trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi, vi phạm của bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự nên phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật hình sự. Hình phạt mà bị cáo bị truy tố, xét xử có mức tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Số tiền bị cáo chiếm đoạt 5.710.000.000₫ nên áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là phù hợp. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã nhiều lần đưa thông tin gian dối để bị hại nhiều lần chuyển tiền cho bị cáo, tại mỗi lần chuyển tiền đủ định lượng để cấu thành tội phạm. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần” theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, nhân thân bị cáo xấu, đã 02 lần vi phạm pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội là cụ Lê Thành Thái tham gia cách mạng được nhà nước tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang; tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bị hại số tiền chiếm đoạt là 5.710.000.000 đồng.
[5] Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra có thu giữ của bị cáo C 01 (một) con dấu tròn ký hiệu: “M.S.D.N 2001362711 - C.T.T.N.H.H, TP Cà Mau, T. Cà Mau” và 01 (một) con dấu tên Lê Thành C; Đồ vật này không phải là vật chứng của vụ án nên giao trả lại bị cáo C.
Ngoài ra, Cơ quan điều tra có thu giữ của các bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone 6s plus, số máy MKV82LLIA, số seerri F2PQM8Q2RWV, 01 (một) sim số vinaphone 0916.979.xxx, đã qua sử dụng; Chiếc điện thoại này bị cáo có sử dụng vào việc liên lạc với bị hại trong việc thực hiện việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Số tài sản và đồ vật trên hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau đang quản lý (BL: 345).
[6] Về án phí: Do bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với số tiền hoàn trả thì bị cáo và bị hại đã thống nhất tại giai đoạn điều tra nên bị cáo không phải chịu án phí dân sự có giá ngạch.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Trách nhiệm hình sự.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Tuyên phạt: Bị cáo Lê Thành C 14 (mười bốn) năm tù; thời hạn từ tính từ ngày 07/3/2024.
Trách nhiệm dân sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a và f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Lê Thành C có nghĩa vụ hoàn trả cho bị hại Nguyễn Tiến Đ số tiền 5.710.000.000 đồng (Năm tỷ bảy trăm mười triệu đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Hoàn trả lại bị cáo Lê Thành C 01 (một) con dấu tròn ký hiệu: “M.S.D.N 2001362711 - C.T.T.N.H.H, TP Cà Mau, T. Cà Mau”, 01 (một) con dấu tên Lê Thành C tại túi niêm phong mã số PS2 2115167.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone 6s plus, số máy MKV82LLIA, số seerri F2PQM8Q2RWV màn hình bị vở kính nhiều vị trí, 01 (một) sim số vinaphone 0916.979.xxx đã qua sử dụng tại túi niêm phong mã số NS3 2130319.
Án phí: Bị cáo Lê Thành C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xét xử công khai, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Trịnh Xuân Miễn |
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: C đưa ra thông tin gian dối ông Đ tin là thật nên đưa tiền để đàu tư nhưng bị C chiếm đoạt.
