|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2024/HSST Ngày: 29/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nhưng, ông Trần Hậu Thi
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hoài Thanh, Thư Ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Phiệt, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 52/2024/HSST ngày 31tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXHSST – HS, ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Đức Đ; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 05 tháng 08 năm 1999, tại phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Khối L, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thổ; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; chức vụ, đảng phái: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Phạm Đức D và bà: Lê Thị H; anh em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; có vợ: Nguyễn Thị H1 và 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2024 đến ngày 28/10/2024 được thay thế biện pháp cho gia đình bảo lĩnh, hiện nay đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An; có mặt tại phiên toà.
Bị hại:
- - Anh Lê Đức A; sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn B, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên toà
- - Anh Thái Văn L; sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên toà
- - Anh Thân Văn H2; sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên toà
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Bùi Xuân D1, sinh năm 1987; trú tại: Thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên toà
- Anh Đậu Văn S; sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên toà;
- Ông Phạm Đức D; sinh năm 1976; Khối L, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt tại phiên toà
Người làm chứng:
- Anh Lê Công Thành D2, sinh ngày 26 tháng 5 năm 2006; trú tại: Thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên toà
- Anh Phạm Đức Đ1; sinh ngày 03/6/2007; nơi cư trú: Khối L, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên toà
- Chị Thân Thị Ngọc L1; sinh năm 2008; nơi cư trú: Thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Học sinh. Vắng mặt tại phiên toà
Người đại diện theo pháp luật của người làm chứng:
- Ông Phạm Đức D; sinh năm 1976; Khối L, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do. (là người đại diện theo pháp luật của người làm chứng Phạm Đức Đ1); có mặt tại phiên toà
- Anh Thân Văn H2; sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang (là người đại diện theo pháp luật của người làm chứng Thân Thị Ngọc L1), vắng mặt tại phiên toà
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mặc dù không có nghề nghiệp ổn định, không hoạt động trong lĩnh vực tư vấn đưa người đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài nhưng do cần tiền tiêu xài cá nhân, Phạm Đức Đ (sinh năm 1999, trú tại khối L, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An) đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn: Sử dụng các tài khoản facebook ảo, mang tên “B”; “Lê T”, để đăng các bài viết lên các hội nhóm tuyển người đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, những người có nhu cầu đi xuất khẩu lao động nước ngoài vào đăng ký. Sau đó Đ gửi mã đăng nhập để kết bạn tài khoản zalo mang tên “Bình yên” hoặc tài khoản L2 mang tên “Taiwan” rồi nhắn tin với người bị hại đưa ra mức giá và yêu cầu chuyển tiền đặt cọc và các khoản phí khác, rồi sau đó chặn các tài khoản facebook, Z, L2, số điện thoại của các bị hại để chiếm đoạt số tiền đó. Để tránh sự phát hiện của người bị hại cũng như lực lượng chức năng Phạm Đức Đ đã mượn số tài khoản ngân hàng của người thân, bạn bè để người bị hại chuyển tiền vào. Khi chiếm đoạt được tiền, Phạm Đức Đại liên L3 với người thân, bạn bè để họ chuyển tiền vào tài khoản của mình.
Quá trình điều tra xác định: Từ tháng 05/2024 đến tháng 07/2024, với phương thức, thủ đoạn nêu trên Phạm Đức Đ đã 03 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 03 người bị hại, với tổng số tiền chiếm đoạt được là 65.000.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu đồng). Cụ thể:
Lần thứ nhất: Từ ngày 16/05/2024 đến 10/06/2024, Phạm Đức Đ đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Lê Đức A (sinh năm1993, trú tại thôn B, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh) số tiền 28.000.000 đồng. Cụ thể như sau: Bằng thủ đoạn đưa ra thông tin gian dối về việc làm thủ tục, hồ sơ đưa người đi xuất khẩu lao động ở nước Đài Loan. Phạm Đức Đ sử dụng tài khoản facebook có tên “Lê T” đăng tải bài viết lên nhóm facebook “Hội người Việt Nam tại Đài Loan” nhằm mục đích tìm kiếm người có nhu cầu đi xuất khẩu lao động Đài Loan để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sau khi đăng bài viết, ngày 16/05/2024, anh Lê Đức A sử dụng tài khoản facebook mang tên “Cậu Chủ N” nhắn tin đến tài khoản facebook “Lê T” và hỏi về nội dung đưa người sang Đài Loan, qua ứng dụng messeger. Sau khi trao đổi, giới thiệu hình thức đi thì Phạm Đức Đ đã đưa ra chi phí phải đóng khi đưa người sang Đài Loan là 110.000.000đồng. Sau đó Đ gửi mã QR hướng dẫn anh Lê Đức A sang nhắn tin nói chuyện ở phần mềm mạng xã hội “Line” có tên tài khoản “Taiwan”. Đến ngày 29/05/2024, anh Lê Đức A đăng ký xong tài khoản cũng đặt tên “Taiwan” kết bạn và nhắn tin gọi điện qua tài khoản “Line” trao đổi trực tiếp và giới thiệu tên là D2 là người sử dụng tài khoản “Lê T”, việc đầu tiên muốn đăng ký đi thì phải làm thẻ thuyền viên đóng cọc số tiền 5.000.000đồng, sau khi làm xong hồ sơ để qua thì chuyển tiếp số tiền 7.000.000 đồng, trước khi chuẩn bị bay thì chuyển trước số tiền 2.000.000 đồng tiền đồng phục và chuyển hết số tiền còn lại khi sang Đài Loan thành công. Để anh Lê Đức A tin tưởng hơn Đ đã cho anh Lê Đức A số điện thoại 0967.370.xxx để liên lạc. Đến ngày 30/05/2024, anh Lê Đức A nhắn tin với Phạm Đức Đ qua tài khoản mạng xã hội L2 và giới thiệu có 02 người có nhu cầu đi Đài Loan (Anh Bùi Xuân D1, sinh năm 1987, trú tại xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An và anh Đậu Văn S, sinh năm 1998, trú tại xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An). Lúc này Phạm Đức Đ yêu cầu đóng tiền đặt cọc mỗi người 5.000.000 đồng, 02 người là 10.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng để làm giấy tờ. Sau đó, Phạm Đức Đ đã nhắn tin số tài khoản 0987296654 mang tên Lê Công Thành D2, ngân hàng M và nói Lê Đức A chuyển tiền vào số tài khoản này. Anh Lê Đức A đã tin tưởng và chuyển số tiền 10.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng M1, số tài khoản 0987296654, mang tên Lê Công Thành D2 (Tài khoản này trước đó Phạm Đức Đ mượn tài khoản ngân hàng của anh Lê Công Thành D2 để nhận tiền, sau khi nhận được tiền thì Duy chuyển lại vào tài khoản ngân hàng của Đ). Sau khi nhận được số tiền trên Phạm Đức Đ nhắn tin hướng dẫn một số thủ tục làm hồ sơ như gửi ảnh và căn cước, hộ chiếu. Tiếp đó ngày 03/06/2024, Phạm Đức Đ nhắn tin cho Lê Đức A có tên tài khoản mang tên “Taiwan” và thông báo cọc tiền làm hồ sơ mỗi người đóng tiếp số tiền 7.000.000 đồng. Sau đó Lê Đức A đã chuyển khoản tiếp số tiền 14.000.000 đồng tới ngân hàng M1, số tài khoản 0987296654, mang tên Lê Công Thành D2. Đến ngày 06/06/2024, Phạm Đức Đ nhắn tin với Lê Đức A có tên tài khoản “Taiwan” là ngày 08/06/2024 đưa 02 người trên ra bến xe nước ngầm tại Hà Nội thì sẽ có người đón để ngày 09/06/2024 sẽ đón để đi đến Quảng Ninh, ngày 10/06/2024 sẽ đưa xuống tàu (ở M, Quảng Ninh) vì thế phải đóng tiền làm đồng phục mỗi người 2.000.000 đồng. Sau đó anh Lê Đức A chuyển cho Phạm Đức Đại S1 tiền 4.000.000 đồng đến ngân hàng M1, số tài khoản 0987296654, mang tên Lê Công Thành D2. Sau khi chiếm đoạt được số tiền 28.000.000 đồng do không có ý định tiếp tục chiếm đoạt tiền của anh Lê Đức A nên Phạm Đức Đ đã chặn mọi hình thức liên lạc với anh Lê Đức A. Số tiền chiếm đoạt được Phạm Đức Đ đã sử dụng hết vào việc tiêu xài cá nhân.
Lần thứ hai: Từ ngày 20/07/2024 đến ngày 23/07/2024, Phạm Đức Đ đã lừa đảo chiếm đoạt của anh Thái Văn L (sinh năm 1997, trú tại thôn N, xã Q, huyện Y, tỉnh Nghệ An) số tiền 25.000.000 đồng. Cụ thể như sau: Bằng thủ đoạn đưa ra thông tin gian dối về việc làm thủ tục, hồ sơ đưa người đi xuất khẩu lao động ở nước Đài Loan. Phạm Đức Đ sử dụng tài khoản facebook có tên “B” đăng tải bài viết lên nhóm facebook “Hội người Việt Nam tại Đài Loan”; “Ai bất hợp pháp bên Đài về muốn sang lại Đài thì ib” nhằm mục đích tìm kiếm người có nhu cầu đi xuất khẩu lao động Đài Loan để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tối ngày 20/07/2024 Phạm Đức Đ đã chủ động dùng tài khoản zalo mang tên “B” nhắn tin cho tài khoản zalo mang tên “T” (Vì trước đó có zalo mang tên “Văn Hợi” đã liên hệ với Phạm Đức Đ và giới thiệu người có nhu cầu đi). Sau khi trao đổi, giới thiệu hình thức đi thì Phạm Đức Đ đã đưa ra chi phí phải đóng khi đưa người sang Đài Loan hết 100.000.000 đồng và yêu cầu đặt cọc 25.000.000 đồng, trong thời gian 08 tuần sẽ sang được Đài Loan, trước khi có lịch bay chuyển trước 35.000.000 đồng, số tiền còn lại cho nợ trả dần khi sang Đài Loan làm việc. Sau khi giới thiệu anh Thái Văn L người có tài khoản zalo mang tên “Thái Lộc” đã tin tưởng cung cấp thông tin cá nhân để Đ làm hồ sơ. Sau đó Phạm Đức Đ gọi điện, nhắn tin yêu cầu anh Thái Văn L chuyển tiền đặt cọc. Đến tối ngày 23/07/2024, Phạm Đức Đ đã gửi số tài khoản 0001497369105, ngân hàng M, mang tên Nguyễn Quốc P (trước đó Đ đã liên hệ với Nguyễn Quốc P mượn tài khoản này để nhận tiền). Thấy tin tưởng anh Thái Văn L người có tài khoản zalo mang tên “T” đã chuyển số tiền 25.000.000 đồng vào số tài khoản 0001497369105, ngân hàng M, mang tên Nguyễn Quốc P, từ số tài khoản 6786861997, ngân hàng M, mang tên Thái Văn L. Sau dó, Phạm Đức Đ đã liên hệ với anh Nguyễn Quốc P qua tài khoản facebook, để chuyển lại số tiền 25.000.000 đồng vừa nhận được. Ngày 23/07/2024 anh Nguyễn Quốc P dùng số tài khoản 0001497369105, ngân hàng M2, mang tên Nguyễn Quốc P chuyển số tiền 9.999.999 đồng cho số tài khoản 8810815335, ngân hàng B, mang tên Phạm Đức Đ và sau đó anh Nguyễn Quốc P chuyển tiếp số tiền 5.000.000 đồng từ số tài khoản 0001497369105, ngân hàng M2 mang tên Nguyễn Quốc P đến số tài khoản 8810815335, ngân hàng B, mang tên Phạm Đức Đ. Đến ngày 24/07/2024 anh Nguyễn Quốc P dùng số tài khoản 0001497369105, ngân hàng M2, mang tên Nguyễn Quốc P chuyển số tiền 9.999.999 đồng cho số tài khoản 8810815335, ngân hàng B, mang tên Phạm Đức Đ. Tổng số tiền 24.999.998 đồng. Phạm Đức Đ tiều xài cá nhân và nộp vào game tài xủi đánh hết.
Lần thứ ba: Từ ngày 20/07/2024 đến ngày 24/07/2024, Phạm Đức Đ lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Thân Văn H2 (sinh năm 1983, trú tại: thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang) số tiền 12.000.000 đồng. Cụ thể như sau: Cũng với thủ đoạn như trên, Phạm Đức Đ sử dụng tài khoản facebook có tên “B” đăng tải bài viết lên nhóm facebook “Hội người Việt Nam tại Đài Loan”; “Ai bất hợp pháp bên Đài về muốn sang lại Đài thì ib” nhằm mục đích tìm kiếm người có nhu cầu đi xuất khẩu lao động Đài Loan để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sau khi đăng bài viết, ngày 20/07/2024, anh Thân Văn H2 sử dụng tài khoản facebook mang tên “Văn Hợi” nhắn tin đến tài khoản facebook mang tên “B” và hỏi về nội dung làm thủ tục hồ sơ và kinh phí đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan, qua ứng dụng messeger. Sau đó, Phạm Đức Đ đã trả lời tin nhắn và gửi cho anh Thân Văn H2 một mã QR để kết bạn qua tài khoản zalo mang tên “B” để nói chuyện. Sau khi kết bạn tài khoản zalo mang tên “Văn Hợi” xong thì Phạm Đức Đ nhắn tin đưa ra chi phí toàn bộ đi Đài Loan hết 100.000.000 đồng và yêu cầu đặt cọc 25.000.000 đồng, trong thời gian 02 tuần sẽ sang được Đài Loan, trước khi có lịch bay chuyển trước 40.000.000 đông, số tiền còn lại cho nợ trả dần khi sang Đài Loan làm việc. Anh Thân Văn H2 người có tài khoản zalo mang tên “Văn Hợi” đã tin tưởng cung cấp thông tin cá nhân để Đ làm hồ sơ. Sau đó, để tin tưởng Phạm Đức Đ đã trực tiếp gọi điện qua mạng zalo yêu cầu chuyển tiền đặt cọc. Đến ngày 24/07/2024, Phạm Đức Đ đã gửi số tài khoản ngân hàng M1, 0365835323, mang tên Phạm Võ Anh Q cho anh Thân Văn H2 (Số tài khoản này Đ nhờ em trai ruột mình là Phạm Đức Đồng mượn của một người bạn tên Phạm Võ Anh Q). Anh Thân Văn H2 người có tài khoản zalo “Văn Hợi” đã tin tưởng và nhờ con gái ruột là Thân Thị Ngọc L1 chuyển số tiền 12.000.000 đồng chia làm 02 lần chuyển, mỗi lần chuyển số tiền 6.000.000 đồng vào số tài khoản khoản ngân hàng MB, 0365835323, mang tên Phạm Võ Anh Q. Sau khi chiếm đoạt được số tiền trên Phạm Đức Đ cài một ứng dụng game tài xỉu ở trên mạng về rồi nộp trực tiếp số tiền 12.000.000 đồng vào tài khoản game và đánh thua số tiền nói trên. Khi đánh thua hết số tiền Phạm Đức Đ đã xóa ứng dụng dụng đó khỏi máy điện thoại. Đến chiều ngày 24/07/2024 Phạm Đức Đ bị Công an huyện K bắt giữ.
Hành vi nêu trên của Phạm Đức Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Phạm Đức Đ phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên”; được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Phạm Đức Đ”.
Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu là Lê Công Thành D2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xám, số IMEI1: 356804115752656; số IMEI2: 356804115956067 gắn sim điện thoại số 0856.281.xxx (đã qua sử dụng); còn lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu vàng, số IMEI1: 350381395338171; số IMEI2: 350381394778294 gắn sim điện thoại số 0967.370.xxx (đã qua sử dụng) thu giữ của Phạm Đức Đ được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện kỳ anh để xử lý theo thẩm quyền.
Về dân sự: Quá trình điều tra, Phạm Đức Đ đã chủ động bồi thường cho anh Lê Đức A số tiền 28.000.000 đồng; bồi thường cho anh Thái Văn L số tiền 25.000.000 đồng; bồi thường cho anh Thân Văn H2 số tiền 12.000.000 đồng. Các bị hại không có yêu cầu nào khác về dân sự.
Tại bản bị cáo trạng số 54/CT- VKSKA ngày 31 tháng 10 năm 2024, của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Phạm Đức Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Phạm Đức Đ mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
- - Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu vàng, số IMEI1: 350381395338171; số IMEI2: 350381394778294 gắn sim điện thoại số 0967.370.xxx (đã qua sử dụng) thu giữ của Phạm Đức Đ.
- - Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo, xử buộc bị cáo Phạm Đức Đ phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Bị cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của Phạm Đức Đ là sử dụng thủ đoạn gian dối, đăng tải bài viết chứa thông tin về việc đi xuất khẩu Đài Loan không có thật để tìm kiếm người có nhu cầu nhằm mục đích chiếm đoạt tiền đặt cọc của người có nhu cầu đi xuất khẩu lao động. Bằng phương thức, thủ đoạn này, từ ngày 16/05/2024 đến ngày 24/07/2024, Phạm Đức Đ đã 03 lần chiếm đoạt của 03 người bị hại với tổng số tiền 65.000.000 đồng. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của Phạm Đức Đ đã phạm vào tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không có gì oan sai.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Đức Đ phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Đức Đ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Tự nguyên bồi thường thiệt hại”, “Thành khẩn khai báo, ăn hối cải”, người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận những tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Hành vi của Phạm Đức Đ đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có 1 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng có 4 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo phạm 02 lần trở lên nhưng mỗi lần phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hại cho xã hội. Vì vậy Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị bị cáo hưởng án treo cũng đảm bảo nghiêm minh.
[6] Trong vụ án này, đối với Lê Công Thành D2 quá trình điều tra có căn cứ xác định: Khoảng tháng 5/2024, Phạm Đức Đ gọi điện thoại đặt vấn đề nhờ Lê Công Thành D2 cho mượn tài khoản ngân hàng số 0987296654 của D2 mở tại ngân hàng M1 để người khác chuyển tiền vào rồi D2 sẽ chuyển lại vào tài khoản ngân hàng của Phạm Đức Đ. Do là anh em họ, thường xuyên chơi với nhau nên D2 đồng ý. Tuy nhiên, D2 không biết việc số tiền được chuyển vào tài khoản của D2 là tiền do Đ thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt của người khác mà có và D2 cũng không hứa hẹn gì hay được hưởng lợi gì từ việc này nên Lê Công Thành D2 không phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” và không đồng phạm với Phạm Đức Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Đối với Phạm Đức Đ1 quá trình điều tra có căn cứ xác định: Ngày 24/07/2024, Phạm Đức Đ đã nhờ em trai ruột mình là Phạm Đức Đ1 mượn cho tài khoản ngân hàng để nhận tiền chuyển khoản, vì anh em ruột nên Đ1 đồng ý và liên lạc với một người bạn tên Phạm Võ Anh Q (không rõ địa chỉ) mà Phạm Đức Đ1 quen trước đó khi đi làm ở thành phố Hà Nội, sau đó Q về chơi tại thị xã T, tỉnh Nghệ An. Khi Đ1 đặt vấn đề mượn tài khoản ngân hàng M, số C của Phạm Võ Anh Q thì Q đồng ý. Tuy nhiên, Đ1 không biết việc số tiền được chuyển vào tài khoản của Q là tiền do Đ thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt của người khác mà có và cũng không có hứa hẹn gì hay được hưởng lợi gì từ việc này nên Phạm Đức Đ1 không phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” và không đồng phạm với Phạm Đức Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Còn đối với Phạm Võ Anh Q (không rõ địa chỉ) mà Phạm Đức Đ1 nhờ số tài khoản, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tiến hành xác minh thông tin, làm rõ vai trò của người này trong vụ án nhưng không có kết quả.
Đối với Nguyễn Quốc P, quá trình điều tra xác định: Vào ngày 23/07/2024 Phạm Đức Đ đã liên lạc với anh Nguyễn Quốc P qua tin nhắn trên ứng dụng messger để mượn tài khoản ngân hàng M số 0001497369105 của anh P để người khác chuyển tiền vào rồi P sẽ chuyển lại vào tài khoản ngân hàng của Phạm Đức Đ. Do là người cùng khu phố, ít tuổi hơn Đ và trước đó P ở nhà thì có chơi với nhau nên P đồng ý giúp Đ. Theo lời trình bày của Phạm Đức Đ thì chỉ nhờ chuyển khoản chứ P không biết việc số tiền được chuyển vào tài khoản của P là tiền do Đ thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt của người khác mà có và cũng không có hứa hẹn gì hay được hưởng lợi gì từ việc này. Tuy nhiên, hiện tại Nguyễn Quốc P không có mặt tại địa phương, đi đâu và làm gì không ai biết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tách hành vi này của Nguyễn Quốc P để tiếp tục xác minh làm rõ sau.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu thêm gì về dân sự. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phạm Xuân D3 là người đã thay bị cáo bồi thường cho các bị hại, tại phiên toà, ông D3 không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền trên. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét.
[8] Về vật chứng vụ án:
- - Đối với các vật chứng đã được cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu, Hội đồng xét xử không xem xét.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu vàng, số IMEI1: 350381395338171; số IMEI2: 350381394778294 gắn sim điện thoại số 0967.370.xxx (đã qua sử dụng) thu giữ của Phạm Đức Đ là công cụ, phương tiện phạm tội, do đó cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự
[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng bị cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản điểm c, khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 331, Điều 333, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đức Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
- Về hình phạt chính: Xử phạt Phạm Đức Đ 27 (hai bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 (năm tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Đức Đ cho Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Về vật chứng vụ án: Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu vàng, số IMEI1: 350381395338171; số IMEI2: 350381394778294 gắn sim điện thoại số 0967.370.xxx, đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Đức Đ. (Tình trạng, đặc điểm của vật chứng có tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh)
- Về án phí: Xử buộc Phạm Đức Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng bị cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể tư ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Cường |
Bản án số 55/2024/HSST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 55/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
