|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2024/HSST
Ngày 20-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Chuyết
Ông Vũ Văn Phong
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngát - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 08 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2021/TLST- HS ngày 25 tháng 07 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Ngô Thị M, sinh năm: 2003; Giới tính: Nữ; Nơi sinh: Xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc kinh; Tôn giáo: Đạo Công giáo; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Ngô Văn Đ, sinh năm 1973, Con bà: Phạm Thị H, sinh năm:1977; chỗ ở hiện nay: Xóm A, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; gia đình có 05 chị em, M là thứ 2; Chồng: Trần Văn T, sinh năm 1994, trú tại: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Hà Nam; Con: Có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 29/05/2024 (có mặt).
Bị hại: Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1970; Nơi cư trú: TDP T, thị trấn N, huyện T, tỉnh Nam Định (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 25/4/2024, Ngô Thị M điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 90AC-019.11 một mình đi từ nhà ở huyện L, tỉnh Hà Nam về nhà chị gái là Ngô Thị H2, sinh năm 1999, trú tại: tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T để rủ chị H2 đi khám bệnh tại thị trấn Y, huyện H. Khi đến nơi thấy không có ai ở nhà, M liền đi sang nhà bà Phạm Thị H1, sinh năm 1970 (là mẹ chồng chị H2 và ở cạnh nhà chị H2), thấy nhà bà H1 khép cửa, trong nhà không có ai nên M quay xe đi về. Khi đi được một đoạn, M nảy sinh ý định đột nhập vào nhà bà H1 để trộm cắp tài sản. M điều khiển xe quay lại rồi dựng xe trước cửa nhà chị H2. Quan sát xung quanh thấy không có ai, M liền đi vào bên trong ngôi nhà cấp 4 (là nhà ngói ba gian và một gian buồng lồi) của bà H1 để tìm kiếm tài sản. Quan sát thấy ở đầu giường ngủ kê ở phía đông ba gian nhà ngoài có để 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen đã cũ và 01 (một) bộ tai nghe điện thoại không dây màu đen của bà H1, M nhanh chóng lấy điện thoại và tai nghe cất vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi lại tiếp tục đi vào gian buồng ngủ phía tây để tìm kiếm tài sản thì phát hiện ở trên mặt đệm trải dưới nền buồng có 01 (một) chiếc thẻ ngân hàng V màu xanh, trên bề mặt thẻ có in nổi dòng chữ “PHAM THI HUONG” và 01 (một) mảnh giấy nhỏ có ghi các số “060370”. Nghĩ các số ghi trên mảnh giấy là mật khẩu của thẻ ngân hàng V nên M cầm thẻ ngân hàng cất vào túi áo đang mặc rồi nhanh chóng đi ra ngoài lấy xe đi về. Trên đường về, M vào cây ATM A ở thị trấn L, huyện N rồi sử dụng thẻ của bà H1 và nhập các chữ số “060370" ghi trên mảnh giấy đăng nhập được vào tài khoản ngân hàng. Thấy bên trong thẻ có 30.920.000đồng, M rút 11 lần được tổng số tiền 30.800.000 đồng (Ba mươi triệu tám trăm nghìn đồng). M cất tiền và thẻ ngân hàng vào túi áo rồi đi về nhà, trên đường về M đã vứt thẻ ngân hàng V và 01 (một) bộ tai nghe ở dọc đường. Khi về đến nhà M cất điện thoại vào trong tủ và tiêu xài cá nhân hết số tiền 30.800.000 đồng đã trộm cắp được của bà H1.
Ngày 10/5/2024 M đến công an huyện T đầu thú và giao nộp chiếc điện thoại Iphone XSMax đã trộm cắp của bà H1.
Thu giữ vật chứng:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen đã qua sử dụng, phiên bản 64GB, màn hình 6,5 inchs, số I: 353098105648031.
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, sơn màu đen đã qua sử dụng, biển kiểm soát: 90AC-019.11, số khung: RLHJA393XRY618358, số máy: JA70E0316447.
- 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai (dạng mũ nữ) màu trắng sữa và 01 áo khoác màu đỏ đen, phía trên hai bên tay áo có một đường kẻ màu đen từ bả vai đến cổ tay, vùng ngực trái áo có dòng chữ The Narth F.
Kết luận định giá tài sản:
Bản kết luận định giá tài sản số: 06/KL-ĐGTS ngày 24/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Nam Định xác định: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen đã qua xử dụng phiên bản 64 GB có trị giá 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
Xử lý vật chứng đã thu giữ:
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, sau khi xác minh là tài sản của bà H1, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà H1. Bà H1 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, sơn màu đen đã qua sử dụng, biển kiểm soát: 90AC-019.11 là tài sản chung của vợ chồng M. Cơ quan điều tra đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh chờ xử lý theo quy định.
Đối với 01 (một) mũ bảo hiểm lưỡi trai và 01 áo khoác thu của M. Đây là đồ vật cá nhân của M, không phải công cụ, phương tiện phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho M.
Đối với 01 thẻ ngân hàng V mang tên Phạm Thị H1 và 01 bộ tai nghe điện thoại di động M đã vứt ở dọc đường, không xác định được ở đâu nên Cơ quan điều tra không thu giữ được để xử lý. Bà H1 không yêu cầu M bồi thường.
*Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra Ngô Thị M đã thoả thuận bồi thường cho Bà Phạm Thị H1 30.800.000 đồng (Ba mươi triệu tám trăm nghìn đồng). Bà H1 đã nhận đủ và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho M.
Tại cơ quan điều tra Ngô Thị M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Cáo trạng số 50/KSĐT ngày 24 tháng 07 năm 2024, VKSND huyện Trực Ninh đã truy tố bị cáo Ngô Thị M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên toà:
Bị cáo Ngô Thị M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Bị cáo ăn năn hối cải, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng và đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Ngô Thị M phạm tội “Trộm cắp tài sản”, căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS; xử phạt bị cáo Ngô Thị M từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã giải quyết xong nên không xem xét.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, sơn màu đen đã qua sử dụng, biển kiểm soát: 90AC-019.11 là tài sản chung của vợ chồng M. Tuyên trả lại cho bị cáo Ngô Thị M để quản lý, sử dụng.
Bị cáo Ngô Thị M, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện T, Điều tra viên, VKSND huyện Trực Ninh, KSV trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như; Biên bản ghi lời khai của người bị hại; Biên bản ghi lời khai của người làm chứng; Biên bản thu giữ vật chứng; Kết luận định giá tài sản, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 25/4/2024 Ngô Thị M đến nhà chị gái là Ngô Thị H2 ở tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T thì chị H2 không ở nhà. M đã đi sang nhà bà Phạm Thị H1 là mẹ chồng chị H2 (Nhà bà H1 ở bên cạnh nhà chị H2). M có hành vi lén lút bí mật lấy trộm của bà H1 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XSMax có giá trị: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), 01 thẻ ngân hàng V rồi rút số tiền 30.800.000 đồng (Ba mươi triệu tám trăm nghìn đồng) trong tài khoản ngân hàng của bà H1 và tiêu sài hết. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS như Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh đã truy tố đối với bị cáo.
- [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lấy tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do vậy cần phải xử lý bị cáo bằng trách nhiệm hình sự là cần thiết.
- [4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
- [5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; Sau khi phạm tội bị cáo đến công an huyện T đầu thú; Hiện nay bị cáo đang nuôi con nhỏ lại đang mang bầu; Quá trình điều tra bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo và tại phiên tòa đã đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
- [6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Về hình phạt không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo bị cáo.
- [7] Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- [8]. Về vật chứng: Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, sơn màu đen đã qua sử dụng, biển kiểm soát: 90AC-019.11 là tài sản chung của vợ chồng M, vợ chồng M đã có đơn đề nghị được xin lại xe để phục vụ việc sinh hoạt cho gia đình. Căn cứ khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Trả lại xe máy nhãn hiệu Honda, sơn màu đen đã qua sử dụng, biển kiểm soát: 90AC-019.11 cho M quản lý sử dụng.
- [9] Về trách nhiệm Dân sự: Bà H1 đã nhận lại tài sản không yêu cầu M phải bồi thường thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- [10] Án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Ngô Thị M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Ngô Thị M 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 ( Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 20/08/2024).
Giao bị cáo Ngô Thị M cho UBND xã P, huyện L, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo chuyển nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Ngô Thị M cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. - Vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS; Trả lại cho bị cáo Ngô Thị M 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha sơn màu đen, BKS 90AC-019.11, không có giấy tờ xe. Tình trạng xe lúc nhận: Xe hhông nổ được máy, xe không có gương bên phải, xe đã qua sử dụng. Số khung: RLHJA393XRY618358, số máy: JA70E0316447 (có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng số: 60/THA ngày 06/08/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).
- Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo Ngô Thị M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày; Bị cáo Ngô Thị M; bị hại bà Phạm Thị H1 có quyền kháng cáo kể từ ngày tuyên án
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Thu |
Bản án số 55/2024/HSST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 55/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội "Trộm cắp tài sản"
