|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2024/HSST
Ngày: 04/11/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN- TỈNH THANH HOÁ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Long.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Thi
Ông Phạm Văn Hay
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Huy – Thư ký tòa án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên toà:
Ông Hà Quang Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 11/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Cao Thị M, sinh năm 1973; CCCD: [...]; HKTT và nơi cư trú:
TDP H, phường B, TP S, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 08/12; Con ông: Cao Thanh L ; Con bà: Nguyễn Thị N ; Gia đình bị cáo có 05 chị em, bị cáo là con thứ hai; Chồng: Nguyễn Thừa H, sinh năm: 1974 ; Có 02 con lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm gữ từ ngày 27/7/2024 đến ngày 02/8/2024 chuyển sang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đên nay. “Có mặt tại phiên tòa”
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Phan Thị M1, sinh năm: 1980. “Vắng mặt”.
- Chị Lê Thị T, sinh năm: 1982. “Vắng mặt”.
- Chị Phạm Thị Q, sinh năm: 1988. “Vắng mặt”.
Địa chỉ: TDP B, phường T, TP S, Thanh Hóa.
Địa chỉ: TDP N, phường T, TP S, Thanh Hóa.
Địa chỉ: TDP L, phường B, TP S, Thanh Hóa.
- Anh Trần Văn H1, sinh năm: 1985. “Vắng mặt”.
Địa chỉ: SN A D, phường T, TP T, Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 26/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T nhận được tin báo từ quần chúng nhân dân về đối tượng Cao Thị M, sinh năm 1973 ở tổ dân phố H, phường B, thành phố S có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Triệu tập Cao Thị M đến làm việc, M xin đầu thú và khai nhận hành vi cho nhiều người vay lãi nặng dưới hình thức “bốc bát họ”, giao nộp 02 tờ giấy vay tiền mang tên Lê Thị T.
Quá trình điều tra xác định: Từ tháng 01/2022 đến ngày 26/7/2024, nhận thấy nhiều người có nhu cầu vay tiền nhưng không có tài sản thế chấp nên Cao Thị M cho nhiều người vay tiền để thu lãi suất cao dưới hình thức “bốc bát họ” (bát thăm). Khi có người vay, M thỏa thuận về số tiền vay, thời gian vay, lãi xuất theo tỉ lệ 10 ăn 8,5 (nghĩa là khi vay 10.000.000 đồng, với tiền lãi phải trả M cắt trước 1.500.000 đồng, giao thực tế 8.500.000 đồng, thời gian vay 50 ngày, mỗi ngày trả tiền gốc 200.000 đồng). M trực tiếp lập, cho người vay ký nhận, giữ giấy vay rồi đưa tiền trực tiếp hoặc chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng cho người vay. Quá trình thu hồi nợ, người vay trả tiền trực tiếp hoặc chuyển tiền hàng ngày qua tài khoản “NGUYEN THUA HAI” (chồng M) số [...] ngân hàng V, cụ thể:
- Phan Thị M1, sinh năm 1980 ở tổ dân phố B, phường T, thành phố S vay 04 lần:
- Lần 1: Ngày 25/7/2022, M1 “bốc bát họ” số tiền 350.000.000 đồng, M cắt lãi trước số tiền 52.500.000 đồng, M1 thực nhận số tiền 297.500.000 đồng, thỏa thuận trả số tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 7.000.000 đồng, tương đương lãi suất 3.000đ/1.000.000đ/ngày, tương ứng lãi suất 109%/năm. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 9.589.041 đồng, M thu lợi bất chính số tiền 42.910.959 đồng. Đến ngày 11/9/2022, M1 đã trả xong cho M.
- Lần 2: Ngày 18/12/2022, M1 “bốc bát họ” số tiền 400.000.000 đồng, M cắt lãi trước số tiền 60.000.000 đồng, M1 thực nhận số tiền 340.000.000 đồng, thỏa thuận trả số tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 8.000.000 đồng, tương đương 3.000đ/1.000.000đ/ngày, tương ứng 109%/năm. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 10.958.904 đồng, M thu lợi bất chính số tiền 49.041.096 đồng. Đến ngày 13/02/2023, M1 đã trả xong cho M.
- Lần 3: Ngày 13/02/2023, M1 “bốc bát họ” số tiền 400.000.000 đồng, M cắt lãi trước số tiền 60.000.000 đồng, M1 thực nhận số tiền 340.000.000 đồng, thỏa thuận trả số tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 8.000.000 đồng, tương đương 3.000đ/1.000.000đ/ngày, tương ứng 109%/năm. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 10.958.904 đồng, M thu lợi bất chính số tiền 49.041.096 đồng. Đến ngày 03/05/2023, M1 đã trả xong cho M.
- Lần 4: Ngày 03/5/2023, M1 “bốc bát họ” số tiền 400.000.000 đồng, M cắt lãi trước số tiền 60.000.000 đồng, M1 thực nhận số tiền 340.000.000 đồng, thỏa thuận trả tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 8.000.000 đồng, tương đương 3.000đ/1.000.000đ/ngày, tương ứng 109%/năm. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 10.958.904 đồng, M thu lợi bất chính số tiền là 49.041.096 đồng. Đến ngày 18/6/2023, M1 đã trả được 120.000.000 đồng, còn nợ lại 280.000.000 đồng. M cho M1 30.000.000 đồng, còn lại 250.000.000 đồng thì M1 xin trả gốc 1.000.000 đồng/ngày, M đồng ý. Phan Thị M1 trả đến ngày 15/01/2024 (trong đó có ngày trả, có ngày không), đến nay M1 còn nợ M 43.000.000 đồng.
- Lê Thị T, sinh năm 1982, trú tại tổ dân phố N, phường T, thành phố S vay 11 lần, cụ thể:
- Lần 1: Ngày 05/6/2023, T “bốc bát họ” số tiền 20.000.000 đồng, thỏa thuận trả tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 400.000 đồng. M cắt lãi trước số tiền 3.000.000 đồng và trừ luôn tiền ngày đóng đầu tiên là 400.000 đồng, tương đương 3.000đ/1 triệu/ngày, tương ứng 109%/năm. Đến ngày 14/7/2023, T không còn tiền để tiếp tục đóng nên xin được đáo hạn (bốc bát mới để trả xong bát họ trước). T đã trả xong cho M. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 547.945 đồng, M thu lợi bất chính số tiền là 2.452.055 đồng.
- Lần 2: Ngày 14/7/2023, T bốc bát mới số tiền 20.000.000 đồng để đáo hạn bát thăm cũ. M thỏa thuận trả tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 400.000 đồng. M cắt lãi trước số tiền 3.000.000 đồng và trừ luôn tiền ngày đóng đầu tiên là 400.000 đồng, tương đương 3.000đ/1 triệu/ngày, tương ứng 109%/năm. Đối với bát thăm này, Mai trừ đi 01 ngày đóng thăm đầu tiên với số tiền là 400.000 đồng và số tiền T nợ lại của bát thăm số 1. Ngày 15/8/2023, T không còn tiền trả nên xin đáo hạn bát thăm, bát thăm này T đã trả xong. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 547.945 đồng, M thu lợi bất chính số tiền 2.452.055 đồng.
- Lần 3: Ngày 15/8/2023, chị T bốc bát mới số tiền 20.000.000 đồng để đáo hạn bát thăm cũ. M thỏa thuận trả tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 400.000 đồng. M cắt lãi trước số tiền 3.000.000 đồng và trừ luôn tiền ngày đóng đầu tiên là 400.000 đồng, tương đương 3.000đ/1 triệu/ngày, tương ứng 109%/năm. Đối với bát thăm này, Mai trừ đi 01 ngày đóng thăm đầu tiên với số tiền là 400.000 đồng và số tiền T nợ lại của bát thăm số 2. Ngày 13/9/2023, T không còn tiền trả nên xin đáo hạn bát thăm, bát thăm này T đã trả xong. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 547.945 đồng, M thu lợi bất chính số tiền 2.452.055 đồng.
- Lần 4: Ngày 13/9/2023, chị T bốc bát mới số tiền 20.000.000 đồng để đáo hạn bát thăm cũ. M thỏa thuận trả tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 400.000 đồng. M cắt lãi trước số tiền 3.000.000 đồng và trừ luôn tiền ngày đóng đầu tiên là 400.000 đồng, tương đương 3.000đ/1 triệu/ngày, tương ứng 109%/năm. Đối với bát thăm này, Mai trừ đi 01 ngày đóng thăm đầu tiên với số tiền là 400.000 đồng và số tiền T nợ lại của bát thăm số 3. Ngày 14/10/2023, T không còn tiền trả nên xin đáo hạn bát thăm, bát thăm này T đã trả xong. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 547.945 đồng, M thu lợi bất chính số tiền 2.452.055 đồng.
- Lần 5: Ngày 14/10/2023, chị T bốc bát mới số tiền 20.000.000 đồng để đáo hạn bát thăm cũ. M thỏa thuận trả tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 400.000 đồng. M cắt lãi trước số tiền 3.000.000 đồng và trừ luôn tiền ngày đóng đầu tiên là 400.000 đồng, tương đương 3.000đ/1 triệu/ngày, tương ứng 109%/năm. Đối với bát thăm này, Mai trừ đi 01 ngày đóng thăm đầu tiên với số tiền là 400.000 đồng và số tiền T nợ lại của bát thăm số 4. Ngày 26/11/2023, T không còn tiền trả nên xin đáo hạn bát thăm, bát thăm này T đã trả xong. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 547.945 đồng, M thu lợi bất chính số tiền 2.452.055 đồng.
- Lần 6: Ngày 20/10/2023, chị T bốc bát mới số tiền 20.000.000 đồng để đáo hạn bát thăm cũ. M thỏa thuận trả tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 400.000 đồng. M cắt lãi trước số tiền 3.000.000 đồng và trừ luôn tiền ngày đóng đầu tiên là 400.000 đồng, tương đương 3.000đ/1 triệu/ngày, tương ứng 109%/năm. Đối với bát thăm này, Mai trừ đi 01 ngày đóng thăm đầu tiên với số tiền là 400.000 đồng và số tiền T nợ lại của bát thăm khác. Ngày 04/01/2024, T không còn tiền trả nên xin đáo hạn bát thăm, bát thăm này T đã trả xong. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 547.945 đồng, M thu lợi bất chính số tiền 2.452.055 đồng.
- Lần 7: Ngày 26/11/2023, chị T bốc bát mới số tiền 20.000.000 đồng để đáo hạn bát thăm cũ. M thỏa thuận trả tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 400.000 đồng. M cắt lãi trước số tiền 3.000.000 đồng và trừ luôn tiền ngày đóng đầu tiên là 400.000 đồng, tương đương 3.000đ/1 triệu/ngày, tương ứng 109%/năm. Đối với bát thăm này, Mai trừ đi 01 ngày đóng thăm đầu tiên với số tiền là 400.000 đồng và số tiền T nợ lại của bát thăm số 5. Ngày 17/01/2024, T không còn tiền trả nên xin đáo hạn bát thăm, bát thăm này T đã trả xong. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 547.945 đồng, M thu lợi bất chính số tiền 2.452.055 đồng.
- Lần 8: Ngày 04/01/2024, chị T bốc bát mới số tiền 20.000.000 đồng để đáo hạn bát thăm cũ. M thỏa thuận trả tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 400.000 đồng. M cắt lãi trước số tiền 3.000.000 đồng và trừ luôn tiền ngày đóng đầu tiên là 400.000 đồng, tương đương 3.000đ/1 triệu/ngày, tương ứng 109%/năm. Đối với bát thăm này, Mai trừ đi 01 ngày đóng thăm đầu tiên với số tiền là 400.000 đồng và số tiền T nợ lại của bát thăm số 6. Ngày 22/02/2024, T không còn tiền trả nên xin đáo hạn bát thăm, bát thăm này T đã trả xong. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 547.945 đồng, M thu lợi bất chính số tiền 2.452.055 đồng.
- Lần 9: Ngày 17/01/2024, chị T bốc bát mới số tiền 20.000.000 đồng để đáo hạn bát thăm cũ. M thỏa thuận trả tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 400.000 đồng. M cắt lãi trước số tiền 3.000.000 đồng và trừ luôn tiền ngày đóng đầu tiên là 400.000 đồng, tương đương 3.000đ/1 triệu/ngày, tương ứng 109%/năm. Đối với bát thăm này, Mai trừ đi 01 ngày đóng thăm đầu tiên với số tiền là 400.000 đồng và số tiền T nợ lại của bát thăm số 7. Ngày 06/3/2024, T không còn tiền trả nên xin đáo hạn bát thăm, bát thăm này T đã trả xong. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 547.945 đồng, M thu lợi bất chính số tiền 2.452.055 đồng.
- Lần 10: Ngày 06/6/2024, chị T bốc bát mới số tiền 40.000.000 đồng. M thỏa thuận trả tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 800.000 đồng. M cắt lãi trước số tiền 6.000.000 đồng và trừ luôn tiền ngày đóng đầu tiên là 800.000 đồng, tương đương 3.000đ/1 triệu/ngày, tương ứng 109%/năm, số tiền còn lại đưa tiền mặt trực tiếp cho chị T. Ngày 20/7/2024, T đã trả xong. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 1.095.590 đồng, M thu lợi bất chính số tiền 4.904.110 đồng.
- Lần 11: Ngày 12/6/2024, chị T bốc bát mới số tiền 40.000.000 đồng. M thỏa thuận trả tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 800.000 đồng. M cắt lãi trước số tiền 6.000.000 đồng và trừ luôn tiền ngày đóng đầu tiên là 800.000 đồng, tương đương 3.000đ/1 triệu/ngày, tương ứng 109%/năm, số tiền còn lại đưa tiền mặt trực tiếp cho chị T. Ngày 20/7/2024, T đã trả xong. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 1.095.590 đồng, M thu lợi bất chính số tiền 4.904.110 đồng.
Như vậy, T vay của M tổng số 11 lần vay bát họ (bát thăm), đến nay Lê Thị T đã trả xong cho Cao Thị M.
- Trần Văn H1 sinh năm 1985, trú tại số A D, phường T, thành phố T vay 05 lần, cụ thể:
- Lần 1: Ngày 26/7/2023, Trần Văn H1 “bốc bát họ” số tiền 50.000.000 đồng. M cắt lãi trước 7.500.000 đồng, H1 thực nhận 42.500.000 đồng, thỏa thuận trả tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 1.000.000 đồng, tương đương 3.000đ/1.000.000đ/ngày, tương ứng 109%/năm. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 1.369.863 đồng, M thu lợi bất chính 6.130.137 đồng. Hiện nay, H1 đã trả xong cho M.
- Lần 2: Ngày 15/8/2023, anh H1 “bốc bát họ” số tiền 50.000.000 đồng. M cắt lãi trước 7.500.000 đồng. Do lúc này anh H1 chưa thanh toán khoản vay bát họ lần 1 nên M chuyển khoản cho anh H1 15.600.000 đồng. M thỏa thuận trả tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 1.000.000 đồng, tương đương 3.000đ/1.000.000đ/ngày, tương ứng 109%/năm. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 1.369.863 đồng, M thu lợi bất chính 6.130.137 đồng. Ngày 12/9/2023, H1 đã trả xong cho M.
- Lần 3: Ngày 14/9/2023, anh H1 “bốc bát họ” số tiền 40.000.000 đồng. M cắt lãi trước 6.000.000 đồng, H1 thực nhận 34.000.000 đồng, thỏa thuận trả tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 800.000 đồng, tương đương 3.000đ/1.000.000đ/ngày, tương ứng 109%/năm. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 1.095.890 đồng, M thu lợi bất chính 4.904.110 đồng. Hiện nay, H1 đã trả xong cho M.
- Lần 4: Ngày 04/10/2023, anh H1 “bốc bát họ” số tiền 50.000.000 đồng. M cắt lãi trước 7.500.000 đồng, H1 thực nhận 42.500.000 đồng, thỏa thuận trả tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 1.000.000 đồng, tương đương 3.000đ/1.000.000đ/ngày, tương ứng 109%/năm. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 1.369.863 đồng, M thu lợi bất chính 6.130.137 đồng. Ngày 17/11/2023, H1 đã trả xong cho M.
- Lần 5: Ngày 18/11/2023, anh H1 “bốc bát họ” số tiền 50.000.000 đồng. M cắt lãi trước 7.500.000 đồng, H1 thực nhận 42.500.000 đồng, thỏa thuận trả tiền gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 1.000.000 đồng, tương đương 3.000đ/1.000.000đ/ngày, tương ứng 109%/năm. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 1.369.863 đồng, M thu lợi bất chính 6.130.137 đồng. Ngày 06/01/2024, H1 đã trả xong cho M.
Như vậy, H1 vay của M tổng số 05 lần vay bát họ (bát thăm), đến nay Trần Văn H1 đã trả xong cho Cao Thị M.
- Phạm Thị Q sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố H, phường B, thành phố S:
Khoảng tháng 7/2023, Phạm Thị Q “bốc bát họ” số tiền 20.000.000 đồng. M cắt lãi trước 3.000.000 đồng và trừ đi ngày đóng thăm đầu tiên, số tiền 400.000 đồng. Q thực nhận số tiền 16.600.000 đồng, thỏa thuận trả gốc thời gian 50 ngày, mỗi ngày trả 400.000 đồng với lãi suất 3.000đ/1.000.000đ/ngày tương đương lãi suất 109%/năm. Tiền lãi theo quy định của Nhà nước là 547.945 đồng, M thu lợi bất chính số tiền là 2.452.055 đồng. Quỳnh mới đóng được 2.000.000 đồng tiền gốc, đến nay Q còn nợ 18.000.000 đồng tiền gốc.
Căn cứ Thông tư số: 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của Ngân hàng N1 về quy định phương pháp tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng giữa các tô chức tín dụng với khách hàng. Xác định Cao Thị M cho 04 người vay với nhiều lần vay, với tổng số tiền cho vay là 350.000.000 đồng, M sử dụng số tiền này quay vòng để cho vay, trong đó cho Phan Thị M1, Trần Văn H1, Lê Thị T, Phạm Thị Q vay nhiều lần. Lãi suất 109%/năm, cao gấp 5,45 lần mức lãi suất cao nhất (không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự), số tiền M đã thu theo quy định 20%/1 năm đã là 56.163.780 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 251.335.616 đồng. Hiên nay Mai chưa thu hồi của chị M1 43.000.000đ tiền gốc, chị Q 18.000.000đ tiền gốc
Đối với khoản vay ngày 05/6/2023 của Lê Thị T, M cho vay số tiền 20 triệu đồng, tổng số tiền M thu lợi bất chính 2.452.055 đồng . Tuy nhiên số tiền thu lời bất chính của lần vay này dưới 30 triệu đồng và hành vi cho vay trên đã kết thúc trước ngày 26/7/2023 (thời gian 01 năm so với ngày phát hiện tội phạm là ngày 26/7/2024). Do đó hành vi vi phạm này đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên không có căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính và xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo M
Đối với tài khoản ngân hàng V mang tên “NGUYEN THUA HAI” đứng tên chồng của Cao Thị M, quá trình điều tra xác định Nguyễn Thừa Hải đăng K tài khoản nhưng không sử dụng mà đưa cho vợ trực tiếp sử dụng. H cũng không biết M dùng tài khoản để chuyển, nhận tiền cho vay lãi nặng và H cũng không tham gia hay được hưởng lợi gì từ việc M cho khách hàng vay lãi. Do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với H.
Về vật chứng:
Đối với 02 giấy vay tiền của Lê Thị T. Cơ quan điều tra đã chuyển kèm theo theo hồ sơ vụ án.
Về dân sự:
Bị cáo M đã bồi thường toàn bộ số tiền thu lời bất chính cho chị M1, anh T, chị Q, anh H1. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì thêm về mặt dân sự.
Sau khi Tòa án có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo M đã tự nguyện nộp số tiền gốc đã cho vay là 50.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Sầm Sơn.
Tại bản Cáo trạng số 59/CT-VKS-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn truy tố bị cáo Cao Thị M về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 BLHS.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2,3 Điều 201; Điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 BLHS phạt bị cáo Cao Thị M 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng; P bổ sung bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000đồng ;
Các biện pháp tư pháp:
- Tịch thu toàn bộ số tiền gốc dùng để cho vay là 350.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước, trong đó tịch thu của từ người vay chị Phan Thị M1 43.000.000đồng, chị Phạm Thị Q 18.000.000 đồng; tịch thu của bị cáo 239.000.000 đồng, công nhận bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền gốc đã cho vay là 50.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn
- Tịch thu số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất 20%/năm theo quy định của BLDS là 56.163.780 đồng từ bị cáo M;
- Công nhận sự bị cáo đã khắc phục toàn bộ số tiền thu lời bất chính là 251.335.616 đồng cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về án phí:
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng bị cáo đều thể hiện việc ăn năn hối hận do không hiểu biết pháp luật mà phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và vắng mặt, việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử của vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra, đủ căn cứ và cơ sở để kết luận:
Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2022 đến ngày 26/7//2024 Cao Thị M đã sử dụng số tiền 350.000.000 đồng quay vòng để thực hiện các giao dịch dân sự cho vay với mức lãi suất với mức lãi suất 109%/năm cao gấp 5,45 lần so với mức lãi suất quy định tại Khoản 1 Điều 468 BLDS thu lời bất chính số tiền là 251.335.616₫. Như vậy Cao Thị M phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng số tiền thu lời bất chính là 251.335.616 đồng.
Hành vi của bị cáo Cao Thị M đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ; xâm phạm đến lợi ích của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương và trật tự kinh tế. Do đó cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để làm bài học giáo dục răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung là cần thiết.
[5] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tang nặng: Phạm tội hai lần trở lên.
Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, đầu thú, đã tự nguyện khắc phục hậu quả gây ra, có mẹ tham gia thanh niên xung phong có công với cách mạng. Do đó bị cáo Cao Thị M được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, nhân thân không có tiền án, tiền sự, phạm tội ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã khắc phục hậu quả gây ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của BLHS cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ điều kiện để cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội
[5] Về hình phạt bổ sung : Bị cáo là cho vay lãi nặng nhằm mục đích thu lợi bất chính. Vì vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 46, 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao:
- Đối với số tiền gốc 350.000.000₫ Cao Thị M dùng để cho vay là phương tiện phạm tội nên Tịch thu để nộp ngân sách nhà nước, cụ thể:
- Truy thu để tịch thu số tiền gốc 43.000.000 đồng chị Phan Thị M1 vay chưa trả, truy thu để tịch thu số tiền gốc 18.000.000 đồng của chị Q vay chưa trả để nộp ngân sách nhà nước.
- Truy thu để tịch thu của bị cáo M số tiền gốc là 239.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước ;Công nhận bị cáo Cao Thị M đã tự nguyện nộp số tiền gốc cho vay là 50.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án Sầm Sơn..
- Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Cao Thị M toàn bộ số tiền lãi 56.163.780 đồng tương ứng với mức lãi suất cao nhất 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự là do bị cáo đã thu của người vay (số tiền do phạm tội mà có).
- Đối với số tiền thu lời bất chính: Công nhận bị cáo đã khắc phục hậu quả là toàn bộ số tiền thu lời bất chính là 251.335.616 đồng cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- [7] Về vậy chứng: Vật chứng là 02 giấy vay tiền của chị Lê Thị T là chứng cứ của vụ án nên lưu giữ tại hồ sơ vụ án
- [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 2,3 Điều 201; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65; Điều 46, Điều 47, ; khoản 1, khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 ; Điều 331, Điều 333 BLTTHS; Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án, phí lệ phí Tòa án
Tuyên bố: Bị cáo Cao Thị M phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt:
Bị cáo Cao Thị M 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa nơi các bị cáo đang cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Phạt bổ sung bị cáo 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
Các biện pháp tư pháp:
- Truy thu để tịch thu số tiền nợ gốc để nộp vào Ngân sách nhà nước của người vay đến nay chưa trả của chị Phan Thị M1 là 43.000.000đ (bốn mươi ba triệu đồng) và của chị Phạm Thị Q là 18.000.000đ (mười tám triệu đồng).
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước của bị cáo M: Số tiền gốc 239.000.000₫ (hai trăm ba mươi chín triệu đồng) bị cáo dùng để cho vay và và số tiền lãi 56.163.780đ tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự.
- Sung công quỹ nhà nước số tiền gốc 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) bị cáo dùng để cho vay mà bị cáo đã tự nguyện nộp theo Biên lai thu tiền số 0002184 ngày 25/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Công nhận bị cáo đã khắc phục toàn bộ số tiền thu lời bất chính 251.335.616 đồng cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về án phí:
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị L1 |
Bản án số 55/2024/HSST ngày 04/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA về hình sự: cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 55/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng khoản 2 Điều 201; khoản 1,2Điều 51; Điều 65 BLHS Xử phạt Cao Thị M 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng
