TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2024/HS-PT
Ngày: 11 - 12 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Nguyễn Thị Thương Huyền
Các Thẩm phán: Ông Bùi Minh Thư và bà Trương Thị Lệ Thu
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2024/TLPT- HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo Đinh Đức A, Lê Xuân T, Nguyễn Sỹ Đ và Lê Văn T1, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2024/HS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
* Bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Đinh Đức A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 12/11/1988 tại phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: K, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh;Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Nguyên là cán bộ hợp đồng Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh thị xã H- C (đã nghỉ việc); Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Con ông: Đinh Trần T2, sinh năm 1958; Con bà: Lê Thị H; sinh năm 1958; A, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Trần Thị T3, sinh năm 1993; Con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 03/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh đến ngày 08/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh (có mặt)
- Họ và tên: Lê Xuân T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 15/01/1984 tại phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh;Quốc tịch: Việt Nam;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Nguyên là cán bộ hợp đồng Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh thị xã K (đã nghỉ việc); Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Đảng viên Đ1(đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng); Con ông: Lê Đức N (đã chết); Con bà: Lê Thị P, sinh năm 1958; A, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1994; Con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 21/7/2015, bị Công an thành phố H xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.000.000đồng về hành vi “Đánh bạc”, tại Quyết định số 923/QĐ- XPVPHS.
Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 03/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh đến ngày 08/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh (có mặt)
- Họ và tên: Nguyễn Sỹ Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 16/6/1991tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh;Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Nguyên là cán bộ động hợp đồng Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh thị xã K (đã nghỉ việc); Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Đảng viên Đ1 (đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng); Con ông: Nguyễn Sỹ H2, sinh năm 1957; Con bà: Lê Thị C, sinh năm 1960; A, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Cù Thị Y, sinh năm 1993; Con: 01 đứa, sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 03/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh đến ngày 08/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh (có mặt)
- Họ và tên: Lê Văn T1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 02/4/1989 tại phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh;Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động hợp đồng tại UBND phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (đã nghỉ việc); Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Đảng viên Đ1 (đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng); Con ông: Lê Văn M, sinh năm 1962; Con bà: Nguyễn Thị A1, sinh năm 1964; A, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Lê Thị N1, sinh năm 1989; Con: 03 đứa, đứa lớn nhất sinh năm 2014, đứa nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại tổ dân phố N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh kể từ ngày 10/4/2024 cho đến nay, (có mặt)
Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo và không liên quan đến nội dung kháng cáo của các bị cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ đầu năm 2021 đến cuối năm 2022, lợi dụng việc người dân thiếu hiểu biết về thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai và mong muốn làm nhanh thủ tục cấp đổi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tách thửa và chuyển quyền sử dụng đất, Đinh Đức A, Lê Xuân T, Nguyễn Sỹ Đ là cán bộ hợp đồng Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; là những người được phân công thẩm định hồ sơ, tham mưu cho lãnh đạo Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh thị xã K trong việc cấp đổi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tách thửa, chuyển quyền sử dụng đất, với động cơ vụ lợi đã nhiều lần lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình, làm trái công vụ, thực hiện sai nguyên tắc, thiếu công bằng để nhận tiền của người dân, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của các cá nhân công dân, xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, gây dư luận xấu trong xã hội, làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan nhà nước., trong đó:
Đinh Đức A đã 13 lần thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn, làm trái công vụ, thực hiện sai nguyên tắc, nhận tiền để làm nhanh thủ tục tách thửa, chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người dân trên địa bàn (trong đó có 08 lần thực hiện hành vi độc lập và 05 lần cùng với sự giúp sức của Lê Văn T1). Tổng cộng, Đinh Đức A gây thiệt hại 80.000.000 đồng (trong đó có 02 lần gây thiệt hại, mỗi lần trên 10.000.000 đồng); thu lợi bất chính tổng số tiền 67.000.000 đồng.
Lê Xuân T đã 07 lần thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn, làm trái công vụ, thực hiện sai nguyên tắc, nhận tiền để làm nhanh thủ tục tách thửa, chuyển đổi mục đích sử dụng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tổng cộng Lê Xuân T đã lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, gây thiệt hại tổng số tiền 48.500.000 đồng (trong đó có 02 lần gây thiệt hại, mỗi lần trên 10.000.000 đồng); thu lợi bất chính tổng số tiền 48.500.000 đồng.
Nguyễn Sỹ Đ đã 03 lần thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn, làm trái công vụ, thực hiện sai nguyên tắc, nhận tiền để làm nhanh thủ tục tách thửa, chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tổng số tiền Nguyễn Sỹ Đ đã lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, gây thiệt hại là 30.000.000 đồng (trong đó có 02 lần gây thiệt hại, mỗi lần trên 10.000.000 đồng); thu lợi bất chính tổng số tiền 30.000.000 đồng.
Lê Văn T1 đã 05 lần giúp sức cho Đinh Đức A trong việc lợi dụng chức vụ quyền hạn, làm trái công vụ, thực hiện sai nguyên tắc để làm nhanh thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người dân, gây thiệt hại tổng số tiền 28.000.000 đồng; thu lợi bất chính 13.000.000 đồng.
Với hành vi phạm tội trên, Tại bản án Hình sự sơ thẩm số: 54/2024/HS-ST ngày 30-8-2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã Quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 356; khoản 2 Điều 35; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Đinh Đức A;
Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 356; khoản 2 Điều 35; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Lê Xuân T, Nguyễn Sỹ Đ;
Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 356; khoản 2 Điều 35; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Lê Văn T1;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm b, khoản 2, khoản 3 Điều 106, Điều 136, Điều 299, Điều 326, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Đức A, Lê Xuân T, Nguyễn Sỹ Đ và Lê Văn T1 phạm tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.
- Về hình phạt:
- + Xử phạt Đinh Đức A 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 03/01/2024 đến ngày 08/02/2024. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng.
- + Xử phạt Lê Xuân T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 03/01/2024 đến ngày 08/02/2024. Phạt bổ sung 10.000.000đồng.
- + Xử phạt Nguyễn Sỹ Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 03/01/2024 đến ngày 08/02/2024. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng.
- + Xử phạt Lê Văn T1 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Phạt bổ sung 10.000.000đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định pháp luật.
Trong hạn luật định, các bị cáo nộp đơn kháng cáo với nội dung như sau:
Bị cáo Đinh Đức A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Lê Xuân T, Nguyễn Sỹ Đ và Lê Văn T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Đức A; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Xuân T, Nguyễn Sỹ Đ và Lê Văn T1. Sửa bản án sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 30-8-2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh:
Tuyên bố các bị cáo Đinh Đức A, Lê Xuân T, Nguyễn Sỹ Đ, Lê Văn T1 phạm tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 356; khoản 2 Điều 35; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 38, Điều 58 BLHS xử phạt bị cáo Đinh Đức A 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 03/01/2024 đến 08/02/2024.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 356; khoản 2 Điều 35; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 BLHS xử phạt Lê Xuân T và Nguyễn Sỹ Đ mỗi bị cáo 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 03/01/2024 đến 08/02/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 356; khoản 2 Điều 35; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 38, Điều 58 BLHS xử phạt bị cáo Lê Văn T1 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đúng pháp luật giữ nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo Đinh Đức A, Lê Xuân T, Nguyễn Sỹ Đ và Lê Văn T1 làm trong hạn luật định và hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- [2]. Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đủ căn cứ khẳng định: Trong khoảng thời gian từ đầu năm 2021 đến cuối năm 2022, lợi dụng việc người dân thiếu hiểu biết về thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai và mong muốn làm nhanh thủ tục cấp đổi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tách thửa và chuyển quyền sử dụng đất, Đinh Đức A, Lê Xuân T, Nguyễn Sỹ Đ là cán bộ hợp đồng Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh là những người được phân công thẩm định hồ sơ, tham mưu cho lãnh đạo Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh thị xã K trong việc cấp đổi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tách thửa, chuyển quyền sử dụng đất, với động cơ vụ lợi đã nhiều lần lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình, làm trái công vụ, thực hiện sai nguyên tắc, thiếu công bằng để nhận tiền của người dân, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của các cá nhân công dân, xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, gây dư luận xấu trong xã hội, làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan nhà nước.
- [3]. Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm trái công vụ, xâm phạm đến tính đúng đắn trong công tác quản lý Nhà nước, vượt quá quyền hạn được giao, gây thiệt hại đến tài sản của người dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với cơ quan Nhà nước và gây phức tạp tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Đối với bị cáo Đinh Đức A đã có 13 lần thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn, làm trái công vụ, thực hiện sai nguyên tắc (trong đó có 08 lần thực hiện hành vi độc lập và 05 lần cùng với sự giúp sức của Lê Văn T1), gây thiệt hại tổng số tiền 80.000.000 đồng (trong đó có 02 lần gây thiệt hại, mỗi lần trên 10.000.000 đồng) thu lợi bất chính tổng số tiền 67.000.000 đồng. Bị cáo Lê Văn T1 là người giúp sức cho Đinh Đức A trong việc lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, gây thiệt hại tổng số tiền 28.000.000 đồng, thu lợi bất chính 13.000.000 đồng. Bị cáo Lê Xuân T đã 07 lần thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn, làm trái công vụ gây thiệt hại tổng số tiền 48.500.000 đồng (trong đó có 02 lần gây thiệt hại, mỗi lần trên 10.000.000 đồng), thu lợi bất chính tổng số tiền 48.500.000 đồng; bị cáo Nguyễn Sỹ Đ đã 03 lần thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn, làm trái công vụ, thực hiện sai nguyên tắc, gây thiệt hại tổng số tiền 30.000.000 đồng (trong đó có 02 lần gây thiệt hại, mỗi lần trên 10.000.000 đồng), thu lợi bất chính tổng số tiền 30.000.000 đồng. Vì vậy, cấp sơ thẩm tuyên xử các bị cáo về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ "là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, xét thấy việc phạm tội của các bị cáo là một phần do áp lực số lượng người dân đến tham gia giao dịch đông, một phần áp lực về việc hoàn phải thành công việc. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện khắc phục hậu quả, có bố, mẹ tham gia kháng chiến và được nhà nước khen thưởng là các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo có xuất trình thêm tình tiết mới, cụ thể:
- Bị cáo Đinh Đức A đã nộp tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm với số tiền 10.200.000 đồng; có xác nhận của chính quyền địa phương về việc tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng tại nơi cư trú; có đơn xin giảm nhẹ hình phạt của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã K và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đơn trình bày hoàn cảnh và xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương.
- Bị cáo Nguyễn Sỹ Đ đã nộp tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm với số tiền 10.200.000 đồng; có đơn xin giảm nhẹ hình phạt của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã K; đơn trình bày hoàn cảnh và xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương.
- Bị cáo Lê Xuân T đã nộp tiền phạt bổ sung, tiền thu lợi bất chính còn phải nộp và án phí hình sự sơ thẩm với số tiền 13.200.000 đồng; có đơn trình bày hoàn cảnh và xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương.
- Bị cáo Lê Văn T1 đã nộp tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm số tiền với số tiền 10.200.000 đồng có đơn trình bày hoàn cảnh và xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương.
Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện khắc phục hậu quả. Mặt khác, với mức án mà cấp sơ thẩm tuyên xử đối với các bị cáo là có phần nghiêm khắc so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo Đinh Đức A, Lê Xuân T, Nguyễn Sỹ Đ và Lê Văn T1 nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và để các bị cáo yên tâm cải tạo làm người có ích cho xã hội.
- [4]. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Đinh Đức A, Lê Xuân T, Nguyễn Sỹ Đ và Lê Văn T1 được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí HSPT.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Đức A; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Xuân T, Nguyễn Sỹ Đ và Lê Văn T1. Sửa bản án sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 30-8-2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 356; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đinh Đức A.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 356; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Xuân T và Nguyễn Sỹ Đ.
Căn cứ khoản 1 Điều 356; khoản 2 Điều 35; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Văn T1.
Căn cứ điểm khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Đức A, Lê Xuân T, Nguyễn Sỹ Đ và Lê Văn T1 phạm tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.
- Về hình phạt:
- - Xử phạt Đinh Đức A 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 03/01/2024 đến ngày 08/02/2024.
- - Xử phạt Lê Xuân T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 03/01/2024 đến ngày 08/02/2024.
- - Xử phạt Nguyễn Sỹ Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 03/01/2024 đến ngày 08/02/2024.
- - Xử phạt Lê Văn T1 08 (Tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về án phí: Các bị cáo Đinh Đức A, Lê Xuân T, Nguyễn Sỹ Đ và Lê Văn T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương Huyền |
Bản án số 55/2024/HS-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Số bản án: 55/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Đức A và đồng phạm
