Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HS-PT

Ngày 07 - 05 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thái Hùng.

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Bắc.

Ông Phạm Trung Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Trong các ngày 02 và 07/05/2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 07/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 01 năm 2024 do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị C, Huỳnh Thanh H, Bùi Hữu C1, Trần Thị Kim P đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 105/2023/HS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu:

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Thị C, sinh năm 1963 tại Tiền Giang; nơi cư trú: thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị A (đã chết); chồng: Nguyễn Văn H1 (đã chết); con: 06 con, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1990;

    Tiền án: không;

    Tiền sự: tại Quyết định số 03/QĐ-XPVPHC ngày 11/5/2023, Công an xã B đã xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/7/2023, đến ngày 07/7/2023 được Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức ra Quyết định hủy bỏ Quyết định tạm giữ, bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/7/2023 (có mặt tại phiên tòa).

  2. Huỳnh Thanh H, sinh năm 1983 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: thôn L, xã K, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Trọng N, sinh năm 1950 và bà Hồ Thị T1, sinh năm 1956; vợ: Phạm Thị Thu L, sinh năm 1986; con: 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017;

    Tiền án: không;

    Tiền sự: tại Quyết định 08/QĐ-XPHC ngày 06/4/2023, Công an xã K đã xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/7/2023, đến ngày 07/7/2023 được Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức ra Quyết định hủy bỏ Quyết định tạm giữ, bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/7/2023 (có mặt tại phiên tòa).

  3. Bùi Hữu C1, sinh năm 1988 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: thôn L, xã K, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Hữu Đ, sinh năm 1954 và bà Trần Thị T2, sinh năm 1959; chưa có vợ con;

    Tiền án: không; Tiền sự: không;

    Nhân thân: tại bản án số 01/2028/HS-ST ngày 03/01/2018, Tòa án nhân dân huyện Châu Đức tuyên phạt bị cáo Bùi Hữu C1 12 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/7/2023, đến ngày 07/7/2023 được Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức ra Quyết định hủy bỏ Quyết định tạm giữ, bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/7/2023 (có mặt tại phiên tòa).

  4. Trần Thị Kim P, sinh năm 1970 tại Bến Tre; nơi cư trú: thôn L, xã K, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc T3, sinh năm 1948 và bà Phạm Thị P1, sinh năm 1950; chồng: Trần Ngọc Q (đã chết); con: 01 con, sinh năm 2003;

    Tiền án: không; Tiền sự: không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/7/2023, đến ngày 07/7/2023 được Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức ra Quyết định hủy bỏ Quyết định tạm giữ, bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/7/2023 (có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị C: Ông Phan Minh Đ1 – Luật sư Văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 01/07/2023, tại tổ F, thôn L, xã K, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an xã K bắt quả tang Trần Thị Kim P, Nguyễn Thị C, Bùi Hữu C1, Huỳnh Thanh H, Hồ Thị M và Mai Thị L1 đang đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Binh” ăn tiền. Thu giữ các đồ vật, tài liệu như sau: 04 (Bốn) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 (một) tấm vải màu hồng, kích thước 1.5m x 15m, 02 (hai) ĐTDĐ gồm các nhãn hiệu: 01 Iphone 6, màu bạc: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Redmi, màu xanh, 02 xe mô tô các loại, biển số 72F1 – 659.67 và 72X2 – 8769. Tiền thu giữ trên chiếu bạc: 2.050.000 (hai triệu, không trăm năm mươi nghìn) đồng, tiền thu trong người Nguyễn Thị C là 2.850.000 (hai triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng, tiền thu giữ trong người Bùi Hữu C1 là 1.950.000 (một triệu chín trăm năm mươi ngàn) đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:

Vào ngày 01/7/2023, Trần Thị Kim P có tổ chức tiệc đám giỗ và mời khách. Sau khi tan tiệc P rủ Nguyễn Thị C, Bùi Hữu C1, Huỳnh Thanh H, Hồ Thị M và Mai Thị L1 đánh bài “Binh Ấn Độ” ăn tiền. Cả nhóm đồng ý, P đi mua 04 bộ bài và dùng 01 tấm vải trải dưới nền đất để đánh bạc. P cũng trực tiếp tham gia đánh bạc với những người này. Hình thức chơi như sau: mức đặt cược tối thiểu 50.000 đồng và tối đa 200.000 đồng/ván/tụ bài. Các đối tượng sử dụng bộ bài tây 52 lá và Nguyễn Thị C làm “Cái” trực tiếp xác định thắng thua với từng con bạc.

Khi vào tham gia đánh bạc, C mang theo số tiền 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng và để hết số tiền này trên chiếu bạc, khu vực trước mặt để chung chi cho các con bạc. Đến 14 giờ 30 cùng ngày khi bị Công an xã K bắt quả tang thì C hoảng sợ nên gom hết tiền để trước mặt trên chiếu bạc bỏ vào người. Qua kiểm đếm thu giữ trong người của C số tiền 2.850.000 đồng (hai triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng). Toàn bộ số tiền này, C đều sử dụng vào việc đánh bạc.

Khi tham gia đánh bạc, C1 mang theo số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) và sử dụng hết số tiền này vào việc đánh bạc. Tiền khi đánh bạc, C1 để trong túi quần và rút ra đặt cược từng ván, tiền thắng thì cũng để chung với số tiền mang theo trong người. Khi bị bắt quả tang, Công an thu giữ trong người Châu số tiền 1.950.000 đồng (một triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền còn lại này, C1 trình bày sẽ tiếp tục sử dụng để đánh bạc nếu không bị bắt quả tang.

Khi đi đánh bạc, H mang theo số tiền 1.700.000 (một triệu bảy trăm nghìn) đồng và sử dụng hết số tiền này để đánh bạc. Toàn bộ tiền đánh bạc, H để trên chiếu bạc. Khi Cơ quan Công an bắt quả tang, do chưa kiểm đếm nên H không biết ăn hay thua.

Hồ Thị M và Mai Thị L1 hùn vốn đặt cược 1 tụ bài. Mỗi người hùn 50.000 đồng, tổng 100.000 đồng. Đặt cược được 02 ván thì thua hết 02 ván. Khi Cơ quan Công an bắt quả tang, trong người Mến và L1 không còn tiền.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 105/2023/HSST ngày 21/11/2023, Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị C, Bùi Hữu C1, Huỳnh Thanh H, Trần Thị Kim P, Hồ Thị M và Mai Thị L1 đồng phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị C 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 01/7/2023 đến ngày 07/7/2023; tuyên phạt bị cáo Huỳnh Thanh H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 01/7/2023 đến ngày 07/7/2023; tuyên phạt bị cáo Bùi Hữu C1 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 01/7/2023 đến ngày 07/7/2023;

Áp dụng Khoản 1 Điều 321; các điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Trần Thị Kim P 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 01/7/2023 đến ngày 07/7/2023.

Hình phạt bổ sung: Áp dụng Khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự buộc các bị cáo nộp phạt sung công quỹ Nhà nước số tiền như sau: Các bị cáo Nguyễn Thị C, Bùi Hữu C1, Huỳnh Thanh H, Trần Thị Kim P, mỗi bị cáo nộp phạt 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên phạt các bị cáo Hồ Thị M và Mai Thị L1 mỗi bị cáo 25.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 27, 28 tháng 11 năm 2023, các bị cáo Huỳnh Thanh H, Trần Thị Kim P, Bùi Hữu C1, Nguyễn Thị C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. Kèm theo đơn kháng cáo, bị cáo Nguyễn Thị C nộp các tài liệu, chứng cứ kèm theo liên quan đến việc bị cáo bị bệnh ung thư tuyến giáp.

Tại phiên tòa phúc thẩm: các bị cáo Nguyễn Thị C, Huỳnh Thanh H, Bùi Hữu C1, Trần Thị Kim P đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án: Về tố tụng: các bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của bị cáo là hợp lệ. Về nội dung: bản án sơ thẩm đã kết án các bị cáo về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C, Huỳnh Thanh H 12 (mười hai) tháng tù; bị cáo Bùi Hữu C1 10 (mười) tháng tù; bị cáo Trần Thị Kim P 08 (tám) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới chưa được xem xét tại cấp sơ thẩm. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị C phát biểu quan điểm tranh luận: Bị cáo C là nông dân, không biết chữ, hiểu biết pháp luật kém, hành vi phạm tội của bị cáo là bộc phát, bị cáo đang điều trị bệnh ung thư tuyến giáp. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo C theo điểm i, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, từ đó xem xét cho bị cáo được hưởng án treo hoặc áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền.

Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể kháng cáo, hình thức và nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

2.1 Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 14 giờ 30 ngày 01/07/2023, tại tổ F, thôn L, xã K, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an xã K bắt quả tang Nguyễn Thị C, Huỳnh Thanh H, Bùi Hữu C1, Trần Thị Kim P, Hồ Thị M và Mai Thị L1 đang đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Binh Ấn Độ” ăn tiền với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 6.850.000 (sáu triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Thị C, Huỳnh Thanh H, Bùi Hữu C1, Trần Thị Kim P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Căn cứ vào số tiền dùng để đánh bạc, Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

2.2 Xét kháng cáo của các bị cáo Trần Thị Kim P, Nguyễn Thị C, Bùi Hữu C1, Huỳnh Thanh H xin giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn kiếm tiền mà không qua lao động chân chính nên đã tham gia đánh bạc. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm răn đe, giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; số tiền đánh bạc không lớn, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân đang bị bệnh (bị cáo Nguyễn Thị C) theo quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là chính xác. Tuy nhiên, trong vụ án này, mặc dù bị cáo Nguyễn Thị C và Huỳnh Thanh H có tiền sự nhưng chưa có tiền án hoặc nhân thân đã bị xét xử về một tội danh nào khác nên việc Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm chỉ áp dụng cho riêng bị cáo Trần Thị Kim P tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là có thiếu sót. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy cần phải áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho 02 bị cáo Nguyễn Thị C và Huỳnh Thanh H khi quyết định hình phạt.

Xét về tính chất của vụ án thì thấy rằng, sau khi ăn đám giỗ tại nhà của bị cáo Trần Thị Kim P thì các bị cáo nảy sinh ý định đánh bạc ăn tiền. Hành vi phạm tội là bột phát, nhất thời và tổng số tiền 06 bị cáo dùng vào việc đánh bạc không lớn (6.850.000 đồng) nên vụ án có tính chất đơn giản. Do đó, mặc dù hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội là nhưng mức độ nguy hiểm không cao nên không nhất thiết phải áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo mà có thể áp dụng một hình phạt khác với mức phạt nghiêm khắc.

Xét kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo Nguyễn Thị C và Huỳnh Thanh H đang có tiền sự về hành vi đánh bạc, bị cáo Bùi Hữu C1 có nhân thân đã bị Tòa án xét xử về một tội danh khác nên việc cho các bị cáo hưởng án treo là không phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc cũng vì mục đích ăn tiền, tội danh của các bị cáo bị truy tố theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự nên có thể áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo, áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo. Do áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên cần sửa bản án sơ thẩm cả về hình phạt chính và hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực từ ngày 01/01/2017.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 355, điểm đ Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị C, Bùi Hữu C1, Huỳnh Thanh H, Trần Thị Kim P, sửa bản án sơ thẩm số 105/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về phần hình phạt chính và hình phạt bổ sung;

    Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Thị C, Bùi Hữu C1, Huỳnh Thanh H, Trần Thị Kim P phạm tội “Đánh bạc”.

    Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 35 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt các bị cáo Nguyễn Thị C và Huỳnh Thanh H mỗi bị cáo 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng sung quỹ Nhà nước;

    Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 35 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Bùi Hữu C1 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng sung quỹ Nhà nước;

    Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 35 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Trần Thị Kim P 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

    Về hình phạt bổ sung: không áp dụng.

  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Các bị cáo Nguyễn Thị C, Bùi Hữu C1, Huỳnh Thanh H, Trần Thị Kim P không phải đóng án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (07/05/2024).

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - TAND cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh BR - VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR – VT;
  • - PV 27 – Công an tỉnh BR - VT;
  • - TAND huyện Châu Đức;
  • - VKSND huyện Châu Đức;
  • - Công an huyện Châu Đức;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Châu Đức;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu, Tòa hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Bùi Thái Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HS-PT ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 55/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị C và đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger