|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2024/HS-ST
Ngày 30-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Na .
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Rum;
- Bà Nguyễn Hồng Trang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thương Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Văn B, sinh ngày 27/6/1998, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn C và bà Hồ Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án: Có 01 tiền án: Bản án Hình sự sơ thẩm số: 05/2022/HS-ST, ngày 14/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 18/8/2022; tiền sự: Không; nhân thân: Trưởng công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 68/QĐ-XPHC ngày 24/6/2020, xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” chưa chấp hành việc nộp phạt; bị bắt phạm tội quả tang ngày 13/6/2024 đến ngày 16/6/2024 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1988; cư trú tại: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng, vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 13/6/2024, Phan Văn B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển số 70H1-468.53 đi tìm tài sản không có người trông coi để trộm cắp. Khi đi đến nhà bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1988, ngụ tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì B phát hiện nhà bà T không có người, cửa phía trước đóng nên nảy sinh ý định trộm cắp. B dừng xe cặp lề đường, rồi đi bộ vào trong nhà từ lối cửa sau, quan sát xung quanh khu vực nhà bếp nhưng không có tài sản gì có giá trị nên tiếp tục đi vào trong phòng ngủ thì thấy trên nóc tủ quần áo có một cái bóp màu đen lục tìm bên trong có số tiền 4.365.000 đồng nên lén lút lấy trộm. Khi B đang chuẩn bị lấy tiền trong bóp thì bị anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1997, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh phát hiện truy hô, B vứt bóp bỏ chạy thì bị bắt giữ.
Quá trình điều tra Phan Văn B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh T:
Số 1220/KL-KTHS, ngày 03/7/2024 kết luận 01 (một) xe mô tô hiệu YAMAHA, loại Sirius, sơn màu đen, số khung: RLCJ5B940CY140912, số máy: xóa: Số khung không bị đục xóa, số máy bị đục xóa không xác định được số nguyên thủy;
Số 1217/KL-KTHS, ngày 21/6/2024 kết luận: Một tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 500.000 đồng, hai tờ tiền Việt Nam đồng (Polime) mệnh giá 10.000 đồng là tiền thật.
* Kết quả kê biên tài sản: Qua xác minh tài sản Phan Văn B không có tài sản riêng có giá trị nên không tiến hành kê biên.
* Phần trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị T đã nhận lại toàn bộ tài sản nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bản cáo trạng số: 55/CT-VKSTB ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Phan Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản” đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Văn B mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phan Văn B.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bà Nguyễn Thị T đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Phan Văn B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không có ý kiến tranh luận.
- Bị hại bà Nguyễn Thị T: Vắng mặt.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Phan Văn B xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi của bị cáo thể hiện: Để có tiền mua ma túy sử dụng, vào khoảng khoảng 16 giờ 00 phút ngày 13/6/2024 tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh bị cáo Phan Văn B đã lén lút vào nhà của bà Nguyễn Thị T trộm số tiền 4.365.000 đồng thì bị anh Nguyễn Văn K đi làm về phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi của bị cáo Phan Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Do đó Bản cáo trạng số: 55/CT-VKSTB ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Phan Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng quy định của pháp luật.
[3] Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Phan Văn B là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo B đã bị kết án về “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, sau khi chấp hành án xong, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật, nên cần xử mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
4.1 Tình tiết tăng nặng: Bị cáo B đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
4.2 Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo B được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Xét tính chất, mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối của bị cáo nên cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn, nhằm cách ly bị cáo Phan Văn B ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xét thấy bị cáo Phan Văn B không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về tránh nhiệm dân sự: Bà T đã nhận lại tài sản bị mất, nên không yêu cầu bị cáo B bồi thường, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Xử lý vật chứng:
- 01 (một) xe mô tô hiệu YAMAHA, loại Sirius, sơn màu đen, số khung: RLCJ5B940CY140912, số máy: Bị đục xóa không xác định được số nguyên thủy. Là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước;
- Đối với biển số xe 70H1 – 468.53 không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy;
- Tiền Việt Nam 520.000 đồng thu giữ của bị cáo B, do không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tuyên trả cho bị cáo B. Nhưng giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tiếp tục quản lý để đảm bảo việc thi hành án.
- Các vật chứng khác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xử lý xong theo đúng quy định của pháp luật nên không đặt ra giải quyết.
[9] Về án phí: Bị cáo Phan Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Phan Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phan Văn B 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 13/6/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước của bị cáo Phan Văn B: 01 (một) xe mô tô hiệu YAMAHA, không dàn áo, số khung: RLCJ5B940CY140912, số máy: Bị đục xóa không xác định được số nguyên thủy;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển số xe 70H1-468.53;
- Tạm giữ của bị cáo Phan Văn B để đảm bảo thi hành án gồm: Tiền Việt Nam 520.000 (năm trăm hai mươi nghìn) đồng.
(Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh).
Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Bị cáo Phan Văn B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo Phan Văn B có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại bà Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Na |
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn Bình trộm cắp tài sản
