|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2024/HS-ST Ngày: 29-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hai và ông Lê Thiện Đào Duyên
Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Đăng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Biện Công Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường Ủy ban nhân dân Phường C2, thành phố S, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 bằng hình thức lưu động theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Quốc T (tên gọi khác: Thắng C), sinh năm 2001, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi đăng ký thường trú: Số E, Lô A, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Nơi ở: Số A, Khóm C, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Quốc V và con bà: Bùi Kim A; Anh, chị em: 01 người, sinh năm 2008, bị cáo là con lớn trong gia đình; Vợ: Sống như vợ chồng với Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 2001 (chưa đăng ký kết hôn); Con: Chưa có; Tiền sự: Có 02 tiền sự. (1) Ngày 28/5/2021 Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 15.000.000 đồng về hành vi Tàng trữ công cụ hỗ trợ không có giấy phép. Chưa nộp phạt. (2) Ngày 08/9/2022 Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian là 13 tháng. Chấp hành xong ngày 29/7/2023; Tiền án: Không; Tạm giữ: Không; Bắt tạm giam: Ngày 12/01/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S. (có mặt).
Bị hại: Anh Huỳnh Công M, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Số A, ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Hiện đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Hồ Thị Kim L, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Số A, ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
Người làm chứng:
- - Ông Trương Quốc V, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Số E, Lô A, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)
- - Ông Bùi Văn L1, sinh năm 1955. Nơi cư trú: Số A, Khóm C, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)
- - Anh Nguyễn Minh N, sinh năm 2003. Nơi cư trú: Số A, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
- - Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 2004. Nơi cư trú: Số B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
- - Anh Nguyễn Hữu Q, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Số E, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
- - Chị Phan Thị Cẩm V1, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Số E, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
- - Chị Lê Thị Kiều P, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 12/9/2023, Huỳnh Công M cùng Nguyễn Minh N; Nguyễn Văn G; Nguyễn Hữu Q; Phan Thị Cẩm V1; Lê Thị Kiều P ngồi uống bia tại bờ kè Sông T, thuộc Khóm B, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Trong lúc ngồi uống bia thì Trương Quốc T có điều khiển xe chạy ngang nên P nhờ T chở về nhà dùm nhưng T không đồng ý dẫn đến T và Minh C1 cải nhau rồi T điều khiển xe đi về.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Q, V1, P đi về trước còn lại M, G và N ngồi nói chuyện với nhau.
Trương Quốc T khi về đến nhà gọi điện cho người bạn tên Chí N1 (không rõ họ, địa chỉ) nói rằng đang có chuyện và kêu Chí N1 đi đến chở T đi dùm đồng thời T vào nhà ngoại của T lấy 01 dao tự chế dài khoảng 50cm giấu trong áo mà T đang mặc rồi ra bờ kè Phường 3 đợi Chí Nhỏ.
Đến khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, Chí N1 đi cùng 02 người (T không quen biết 02 người bạn này của Chí N1) đến gặp T thì T có kể sự việc có mâu thuẫn với M và kêu Chí N1 chở T đi đến chổ M. Chí N1 chở T cùng với 02 người bạn của Chí N1 đi
trên 02 xe mô tô chạy đến bờ kè Sông T2 tìm M, T đem theo 01 cây dao tự chế, bạn của Chí N1 có một người cầm cây có hình dáng loại cây đánh bóng chày. Khi gặp nhóm của M đang ngồi thì T cầm dao chạy đến nên G, N bỏ chạy. Huỳnh Công M chạy không kịp bị T chém 01 nhát trúng vào tay trái và 02 nhát trúng vùng lưng rồi T, Chí N1 và 02 bạn của Chí N1 bỏ chạy khỏi hiện trường. Trên đường đi T ném cây dao xuống sông đoạn giữa cầu sắt quay.
Huỳnh Công M thì được N và G đưa đến Bệnh viện Đ, tỉnh Đồng Tháp cấp cứu và điều trị, sau đó chuyển đến Bệnh viện Đ1 tiếp tục điều trị đến ngày 16/9/2023 thì xuất viện. Trong thời gian M điều trị do bà Hồ Thị Kim L (mẹ của M) là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc anh M.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 403/KLTTCT-TTPYÐT ngày 02/11/2023 của Trung tâm pháp y sở Y, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Huỳnh Công M tại thời điểm giám định là 36%. Tổn thương do vật sắc gây ra.
Trong quá trình điều tra, xác minh Công an đã trích xuất dữ liệu Camera an ninh được lắp đặt trên tuyến đường H thuộc Phường C, thành phố S và 03 vết màu nâu đỏ thu tại hiện trường làm căn cứ giải quyết vụ án.
Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKSTPSĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố bị cáo Trương Quốc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Quốc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Về hình phạt, đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Quốc T mức án từ 06 năm đến 07 năm tù. Ngoài ra, còn đề nghị về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận; xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng là đúng quy định pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trương Quốc T thừa nhận vào khoảng 23 giờ 50 phút ngày 12/9/2023, tại bờ kè Sông T thuộc Khóm B, Phường C, thành phố S, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà Trương Quốc T hành xử có tính chất côn đồ, sử dụng dao là một loại hung khí nguy hiểm chém 01 nhát trúng vào tay trái và 02 nhát trúng vùng lưng của anh Huỳnh Công M, gây thương tích với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 36%. Lời khai nhận này của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
[3] Tại thời điểm gây ra thương tích cho anh M, bị cáo đã đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và hoàn toàn nhận thức được dao là hung khí nguy hiểm vì nó có lưỡi sắc bén, nếu sử dụng để đâm, chém vào cơ thể người khác sẽ gây ra thương tích thậm chí gây nguy hiểm đến tính mạng nếu trúng vào những vùng trọng yếu. Thế nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ, lời qua tiếng lại với nhau mà bị cáo cố ý dùng dao chém nhiều cái vào người anh M gây thương tích, chứng tỏ bị cáo có bản tính hung hăng, côn đồ, xem thường pháp luật, xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Với tính chất mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện và tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể mà bị cáo gây ra cho anh M là 36% thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- Dùng ... hung khí nguy hiểm...
- ...
- Có tính chất côn đồ....
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
- ...;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này; ...”
[4] Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên cần áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra anh Huỳnh Công M yêu cầu bị cáo Trương Quốc T bồi thường thiệt hại tổng cộng 50.000.000 đồng, trong đó: chi phí điều trị 9.006.446 đồng; tiền bù đắp tổn thất về tinh thần 40.993.554 đồng. Trương Quốc T đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của anh Huỳnh Công M, đây là sự tự nguyện của các bên nên chấp nhận. Quá trình điều tra, ông Trương Quốc V (cha của T) thay T bồi thường tiền chi phí điều trị cho anh M với số tiền 3.000.000 đồng, nên bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường bồi thường cho anh M số tiền còn lại là 47.000.000 đồng.
Đối với bà Hồ Thị Kim L là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc anh M khi điều trị thương tật nhưng bà L không yêu cầu gì, nên không xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với các túi niêm phong có chứa vết màu nâu đỏ thu giữ tại hiện trường, hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 06 tệp video được lưu trong 1 USB màu trắng, có tên KIOXIA, loại dung lượng 16GB, đã qua sử dụng để trong phong bì màu trắng dán kín, niêm phong có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K1 - Công an tỉnh Đ” và có chữ ký, họ tên: Hứa Văn N2, Nguyễn Tuấn K; 01 đĩa DVD lưu giữ dữ liệu cần giám định, cần tiếp tục lưu hồ sơ để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án.
[8] Phát biểu luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
[10] Về án phí: Bị cáo Trương Quốc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[11] Các vấn đề khác:
Đối với Trương Quốc T khai khi đi gây thương tích cho anh M thì có đi cùng Chí N1 và 02 người bạn của Chí N1, tuy nhiên qua điều tra, xác minh không tìm được, cũng như không xác định được danh tính chính xác của những người này nên chưa thể điều tra, làm rõ xử lý theo quy định được. Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi nào tìm được sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Trương Quốc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Trương Quốc T mức án 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2024 (ngày bắt tạm giam).
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 590 của Bộ luật Dân sự:
Bị cáo Trương Quốc T bồi thường cho anh Huỳnh Công M chi phí điều trị 6.006.446 đồng, tiền bù đắp tổn thất về tinh thần 40.993.554 đồng, tổng cộng 47.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chưa thi hành án cho đến khi thi hành xong.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + Túi niêm phong kí hiệu: PS3; mã số: PS3 và có số 2126142.
- + Túi niêm phong kí hiệu: PS3; mã số: PS3 và có số 2126143.
- + Túi niêm phong kí hiệu: PS3; mã số: PS3 và có số 2126144.
- (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/8/2024)
- - Lưu hồ sơ vụ án: 06 tệp video được lưu trong 1 USB màu trắng, có tên KIOXIA, loại dung lượng 16GB, đã qua sử dụng để trong phong bì màu trắng dán kín, niêm phong có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K1 - Công an tỉnh Đ” và
có chữ ký, họ tên: Hứa Văn N2, Nguyễn Tuấn K; 01 đĩa DVD lưu giữ dữ liệu cần giám định.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Bị cáo Trương Quốc T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.350.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Hoàng Minh |
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Quốc T phạm tội CYGTT
