|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2024/HS-ST
Ngày: 29/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Tấn Tài.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Tiến.
2/ Ông Nguyễn Hồng Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Hữu Lộc - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Ba Tri.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST – HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Minh Đ, sinh ngày 08/6/1961; Tên gọi khác: Không có; Nơi sinh: tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Số A, đường V, khu phố D, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Hưu trí (Nguyên là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn B); Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Chung Thị K (đã chết); Có 04 anh chị, lớn nhất không rõ năm sinh, nhỏ nhất sinh năm 1955; Vợ: Nguyễn Thị T1; Có 02 con, lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/12/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại tòa.
2. Hồ Thị S, sinh ngày 07/02/1962; Tên gọi khác: Không có; Nơi sinh: tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Số C, khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre; Nghề
nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Văn R (đã chết) và bà Nguyễn Thị Y (đã chết); Có 05 chị em, lớn nhất sinh năm 1956, nhỏ nhất sinh năm 1975; Chồng: Nguyễn Văn N; Có 02 con, lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/10/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Thị S: Luật sư Nguyễn Thị Ngọc P – thuộc Trung tâm tư vấn pháp luật huyện B, Đoàn Luật sư tỉnh B. (Có mặt).
- Bị hại: Ủy ban nhân dân huyện B (Đại diện theo pháp luật: Ông Dương Minh T2 – Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B; Đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn L – Chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B). (Có mặt).
Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị L1, sinh năm 1959; (Có mặt).
Nơi cư trú: Số B, ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Trần Thị Bé N1, sinh năm 1971; (Có mặt).
Nơi cư trú: Số A, ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Hồ Thị T3, sinh năm 1934; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Số A, ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Nguyễn Văn N, sinh năm 1957; (Có mặt).
Nơi cư trú: Số C, khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Nguyễn Thị Xuân T4, sinh năm 1982; (Có mặt).
Nơi cư trú: Số C, khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Nguyễn Thị T1, sinh năm 1965; (Có mặt).
Nơi cư trú: Số A, đường V, khu phố D, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Người làm chứng:
- Nguyễn Thành L2, sinh năm 1984; (Vắng mặt có đơn).
Nơi cư trú: Số B, ấp A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Phạm Trần Khắc P1, sinh năm 1981; (Vắng mặt có đơn).
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Đặng Văn T5, sinh năm 1988; (Vắng mặt có đơn).
Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Phạm Thị K1, sinh năm 1985; (Vắng mặt có đơn).
Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Trịnh Thị Kim N2, sinh năm 1985; (Vắng mặt có đơn).
Nơi cư trú: Ấp N, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Trà Thị V, sinh năm 1988; (Vắng mặt có đơn).
Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Trương Tuấn K2, sinh năm 1970; (Vắng mặt có đơn).
Nơi cư trú: Số G, khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Trần Ngọc B, sinh năm 1985; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Số A, đường V, khu phố D, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2019, Trần Minh Đ là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre phụ trách lĩnh vực kinh tế. Do vợ chồng Đ thường tập thể dục chung ở chợ mới B nên Đ có quen và biết bà Hồ Thị S có nhu cầu chuyển đổi mục đích từ đất chuyên trồng lúa nước sang đất ở tại thửa 307, tờ bản đồ số 8 thuộc thị trấn B có tổng diện tích là 407,9m² nhưng chi phí cao khoảng 1,2 tỉ đồng nên Đ có nói với S gia đình bên vợ Đ có thân nhân liệt sĩ nếu để ông Đ làm thủ tục chuyển đổi mục đích sang đất ở sẽ có chi phí thấp hơn là 800.000.000 đồng, trong đó bà S phải trả tiền chi phí làm sổ hết 400.000.000 đồng, còn 400.000.000 đồng cho lại bên thân nhân liệt sĩ, bà S thấy việc giao cho Đ làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất sẽ lời được 400.000.000 đồng nên S đồng ý. Sau khi thoả thuận xong số tiền, Đ và S bàn bạc thống nhất Đ phân công nhiệm vụ cụ thể: Đ là người lo hết các thủ tục, giấy tờ còn S đưa tiền và sổ đất cho Đ để Đ làm hồ sơ, khi nào cần ký giấy tờ gì thì Đ đưa S ký. Thực hiện theo thoả thuận, Trần Minh Đ nói với bà Nguyễn Thị L1 (chị vợ), bà Trần Thị Bé N1 (em vợ) là con ruột của bà Hồ Thị T3 – sinh năm 1934 (vợ liệt sĩ Nguyễn Văn D và liệt sĩ Trần Văn C) đưa cho Đ các giấy tờ thân nhân liệt sĩ và giấy tờ của bà Hồ Thị T3 để làm thủ tục đất đai cho người khác thì chủ đất sẽ cho tiền để có
tiền sửa sang nhà cửa thì L1 và Bé N1 đồng ý đưa các giấy tờ liên quan đến thân liệt sĩ cho Đ. Như thoả thuận ban đầu, S đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà S cho Đ, Đ chuẩn bị hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất rồi đến nhà bà S đưa hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà S ký tên mặc dù Hồ Thị S biết việc ký hợp đồng tại nhà không đi đến Ủy ban nhân dân thị trấn B và không có mặt bên mua, bên bán khi ký hợp đồng là không đúng quy định nhưng S vẫn ký để Đ làm được các thủ tục tiếp theo vì lợi ích như thoả thuận ban đầu. S đưa trước 400.000.000 đồng cho Đ để Đ làm thủ tục, sau khi có sổ sẽ đưa thêm 400.000.000 đồng. Đ ký chứng thực vào hợp đồng chuyển nhượng trên vào ngày 24/5/2019. Sau đó, Trần Minh Đ ký giả chữ ký của Hồ Thị T3, Trần Thị Bé N1 vào các giấy tờ, đơn từ để thuận tiện cho việc làm các thủ tục: Sang nhượng đất của Hồ Thị S cho bà Hồ Thị T3, bà T3 tách thửa 307 làm thành 02 thửa (thửa 352 có diện tích 207,4m² và thửa 353 có diện tích 200,6m²), làm thủ tục sang nhượng thửa 353 cho bà Trần Thị Bé N1 và sử dụng chế độ chính sách của bà T3, bà Bé N1 xin miễn, giảm, chuyển mục đích sử dụng đất thửa 352, 353 rồi chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị Xuân T4 – sinh năm 1982 (con bà S).
Quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với thửa 352 và 353 tờ bản đồ số 8 tọa lạc thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre, Trần Minh Đ thực hiện cụ thể như sau:
* Đối với thửa 352: Ngày 11/7/2019, Hồ Thị T3 đứng đơn xin chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất chuyên trồng lúa sang đất ở đô thị đối với thửa 352 thuộc tờ bản đồ số 8 với diện tích 104,4m²/207,4m². Ngày 03/9/2019, Hồ Thị T3 có đơn xin miễn giảm tiền sử dụng đất đối với phần đất này và được Trần Minh Đ ký chứng thực xác nhận. Ngày 12/9/2019, Trần Minh Đ ký công văn số 245/TTr-UBND đề nghị miễn giảm tiền sử dụng đất cho thân nhân liệt sĩ đối với phần đất mà bà T3 đứng tên xin chuyển đổi gửi đến Phòng T7 huyện. Tuy nhiên qua thẩm tra hồ sơ phát hiện các chữ ký của bà T3 không giống nhau và có nghi ngờ về tính xác thực nên Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện ban hành Công văn 968/PTNMT-QLĐĐ yêu cầu Ủy ban nhân dân thị trấn B kiểm tra tính xác thực. Ngay sau khi nhận được công văn trên, Trần Minh Đ không phân công cán bộ tiến hành kiểm tra, xác minh mà trực tiếp phát hành và ký Công văn số 277/UBND-ĐC về việc xác minh chuyển mục đích sử dụng đất và ký tên gửi đến Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện T7 xác nhận chữ ký đều là của bà Hồ Thị T3 do ký nhiều giấy tờ khác nhau nên chữ ký có khác nhau, khẳng định đã xác minh thực tế. Sau khi nhận được văn bản phản hồi trên, Phòng T7 huyện
tham mưu và được Ủy ban nhân dân huyện B ban hành quyết định số 3352/QĐ-UBND ngày 21/10/2019 về việc cho phép bà Hồ Thị T3 chuyển mục đích sử dụng đất đối với thửa 352 diện tích 104,4m². Đến ngày 06/11/2019, Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 3461/QĐ-UBND về việc giảm tiền sử dụng đất, diện tích được xét giảm là 104,4m² cụ thể như sau:
- + Số tiền sử dụng đất được xét giảm là: 403.130.100 đồng.
- + Số tiền sử dụng đất được giảm 70% là: 282.191.100 đồng.
- + Số tiền sử dụng đất còn phải nộp: 120.939.000 đồng.
Sau đó Trần Minh Đ hoàn tất các thủ tục nộp thuế và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Hồ Thị T3 đứng tên.
* Đối với thửa đất 353: Ngày 28/11/2019 Hồ Thị T3 đứng tên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho con ruột là bà Trần Thị Bé N1, Trần Minh Đ ký chứng thực hợp đồng. Sau đó, ngày 30/12/2019 bà N1 đứng đơn xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất thửa 353 từ đất chuyên trồng lúa sang đất ở và đơn xin miễn giảm tiền sử dụng đất với diện tích 150m² của thửa 353. Ngày 30/12/2019, Trần Minh Đ ký công văn 351/UBND-ĐC về việc đề nghị miễn giảm tiền sử dụng đất cho thân nhân liệt sĩ đối với phần đất mà bà N1 đứng tên xin chuyển đổi gửi đến Phòng T7 huyện. Ngày 06/01/2020, Ủy ban nhân dân huyện B2 quyết định số 12/QĐ-UBND về việc cho phép bà Trần Thị Bé N1 chuyển mục đích sử dụng đất đối với thửa 353. Đến ngày 28/02/2020, Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định 320/QĐ-UBND về việc giảm tiền sử dụng đất, diện tích được xét giảm là 150m² cụ thể như sau:
- + Số tiền sử dụng đất được xét giảm là: 147.900.000 đồng.
- + Số tiền sử dụng đất được giảm 70% là: 103.530.000 đồng.
- + Số tiền sử dụng đất còn phải nộp là: 44.370.000 đồng.
Sau đó Trần Minh Đ hoàn tất các thủ tục nộp thuế và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị Bé N1.
Khi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Trần Minh Đ trực tiếp hoàn chỉnh hồ sơ, thủ tục để sang nhượng lại hai thửa đất này cho bà Nguyễn Thị Xuân T4 như đã thỏa thuận trước với Hồ Thị S và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi có sổ đất, Trần Minh Đ đưa sổ cho Hồ Thị S và nhận tiền như đã thoả thuận ban đầu, tổng số tiền mà S đưa cho Đ để chuyển đổi mục đích sử dụng đất là 821.000.000 đồng (trong đó số tiền 21.000.000 đồng là do diện tích dư ra khi đo đạc thực tế, chế độ liệt sĩ chỉ được
300m²/02 quyển sổ). Sau đó, Trần Minh Đ cho bà Nguyễn Thị L1 số tiền khoảng 221.000.000 đồng và cho Trần Thị Bé N1 số tiền 200.000.000 đồng. Trong tổng số tiền 821.000.000 đồng, Trần Minh Đ đã sử dụng làm chi phí hồ sơ chuyển đổi mục đích sử dụng đất với số tiền là 282.765.907 đồng, Trần Minh Đ đã hưởng lợi là 538.234.093 đồng, số tiền gây thiệt hại cho Nhà nước là 385.721.112 đồng (theo Quyết định số 3461/QĐ-UBND ngày 06/11/2019 và Quyết định 320/QĐ-UBND ngày 28/02/2020 miễm giảm tiền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện B).
Vật chứng thu giữ, gồm:
- 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX598525 (Bản chính) tên người sử dụng chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bà Hồ Thị S, sinh năm 1962, đăng ký thường trú tại khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre, chưa xử lý.
- 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX349624 (Bản chính) tên người sử dụng chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bà Nguyễn Thị Xuân T4, sinh năm 1982, đăng ký thường trú tại khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre, chưa xử lý.
- Số tiền thất thoát ngân sách nhà nước 385.721.112 đồng, Thanh tra tỉnh Bến Tre đã thu hồi trong giai đoạn thanh tra và hiện đã xử lý nộp vào ngân sách nhà nước tỉnh Bến Tre.
Tại Kết luận giám định số 399/2022/KL-KTHS ngày 27/7/2022, Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận: “... Chữ ký dạng chữ viết “Thành” mang tên Hồ Thị T3” dưới mục “Người đứng đơn” trên mẫu gửi giám định (ký hiệu từ A17, A18); dưới mục “Người sử dụng đất” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A20); dưới mục “Bên A” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A21); dưới mục “Bên B” trên mẫu cần giám định (ký hiệu từ A22) tại mục II.1 so với chữ ký dạng viết “Thành” trên mẫu so sánh (ký hiệu M6) nêu tại mục II.2 không phải do cùng một người ký (viết) ra”.
Tại Kết luận giám định số 765/2024/KL-KTHS ngày 26/9/2024, Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận:
- Chữ ký dạng chữ viết “T3” (“T6”) mang tên “Hồ Thị T3” dưới mục “Người đứng đơn” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A1); dưới mục “Người viết đơn” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A2, A3); dưới mục “Người sử dụng đất” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A4); dưới mục “Bên A” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A5); dưới mục “Bên B” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A6) so
với chữ ký (viết) của “Nguyễn Thị L1” ký dưới dạng chữ viết “T3” mang tên “Hồ Thị T3” trên mẫu so sánh (ký hiệu M1) không phải do cùng một người ký (viết) ra.
- Chữ ký dạng chữ viết “Nam” (“Năm”) mang tên “Trần Thị Bé N1” dưới mục “Bên B” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A5); dưới mục “Người viết đơn” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A7); dưới mục “Bên A” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A8); dưới mục “Người ủy quyền” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A9); dưới mục “Người nộp thuế hoặc đại diện hợp pháp của người nộp thuế” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A10, A11); dưới mục “Người nộp thuế (bao gồm cả đồng sở hữu (nếu có) hoặc đại diện hợp pháp của người nộp thuế” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A12); dưới mục “Người nộp tiền” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A13 đến A16); dưới mục “Người làm đơn” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A17); dưới mục “Người đứng đơn” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A18); dưới mục “Người kê khai” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A19) so với chữ ký dạng chữ viết “BeNam” mang tên “Trần Thị Bé N1” trên mẫu so sánh (ký hiệu M2) không phải do cùng một người ký (viết) ra.
- 3.1. Chữ ký dạng chữ viết “Sương” mang tên “Hồ Thị S” dưới mục “Bên A” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A6) so với chữ ký dạng chữ viết “Sương” mang tên “Hồ Thị S” trên mẫu so sánh (ký hiệu M3) do cùng một người ký (viết) ra.
- 3.2. Chữ ký dạng chữ viết “Sương” mang tên “Hồ Thị S” dưới mục “Người nộp tiền” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A20); dưới mục “Người nộp thuế (bao gồm cả đồng sở hữu (nếu có) hoặc đại diện hợp pháp của người nộp thuế” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A21) so với chữ ký dạng chữ viết “Sương” mang tên “Hồ Thị S” trên mẫu so sánh (ký hiệu M3) không phải do cùng một người ký (viết) ra.
Ngày 20/02/2024, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B có văn bản số 666/STNMT-QLĐĐ xác định:
- - Sở T không có giám định viên để thực hiện thẩm định các nội dung mà cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B trưng cầu giám định nên không có ý kiến về những nội dung trưng cầu giám định.
- - Và đến thời điểm hiện tại Sở T không có giám định viên để thực hiện thẩm định các nội dung mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B trưng cầu giám định và để làm rõ hơn nội dung trưng cầu giám định, Sở T kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tham khảo thêm Kết luận Thanh tra số 1036/KL-TT
ngày 07/9/2022 của Thanh tra tỉnh Bến Tre về việc chấp hành các quy định của pháp luật trong công tác chuyển mục đích sử dụng đất đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh.
- - Về quy trình thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Sở T đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tham khảo thêm thủ tục số 17 tại Quyết định số 458/QĐ-UBND ngày 08 tháng 3 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc công bố 95 thủ tục hành chính được chuẩn hóa trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở T.
Tại văn bản số 16/GĐYK ngày 01/02/2024 của Trung tâm giám định y khoa – Cơ quan thường trực Hội đồng giám định y khoa thuộc Sở y tế tỉnh B kết luận: Không đủ chứng cứ y học để giám định bị can Trần Minh Đ đang mắc bệnh hiểm nghèo.
Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 272/KL-VPYTW ngày 03/5/2024 của Viện pháp y tâm thần trung ương B3 kết luận:
- + Trước, trong khi gây án: Đương sự không có bệnh tâm thần.
- + Sau khi gây án: Đương sự bị chảy máu dưới màng cứng; tổn thương ổ của não (S06.5; S06.3 - ICD.10).
- + Hiện nay: Đương sự bị bệnh Hội chứng sau chấn động não (F07.2 - ICD.10).
Về khả năng nhận thức điều khiển hành vi:
- + Tại thời điểm gây án: Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
- + Hiện nay: Đương sự đủ khả năng nhận thức, bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Trong giai đoạn truy tố bị cáo Hồ Thị S có nộp 5.000.000 đồng khắc phục hậu quả tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri theo biên lai nộp tiền số 0001272 ngày 24/10/2024.
Trong giai đoạn xét xử bị bị cáo Trần Minh Đ nộp số tiền 153.000.000 đồng khắc phục hậu quả tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri theo biên lai nộp tiền số 0001278 ngày 04/11/2024.
Tại Bản Cáo trạng số: 45/CT-VKSBT ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri đã truy tố bị cáo Trần Minh Đ, Hồ Thị S về tội “Lợi dụng
chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 356 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Trần Minh Đ, Hồ Thị S phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, đồng thời đề nghị:
* Về trách nhiệm hình sự:
- - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, q, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Minh Đ từ 02 năm đến 03 năm tù.
- - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Thị S từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
Các bị cáo đã quá tuổi lao động, bị cáo Đ đã nghĩ hưu theo chế độ nên đề nghị HĐXX không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ theo khoản 4 Điều 356 Bộ luật Hình sự.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX:
- - Kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B thu hồi: 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX598525 tên người sử dụng chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bà Hồ Thị S, sinh năm 1962, đăng ký thường trú tại khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre và 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX349624 tên người sử dụng chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bà Nguyễn Thị Xuân T4, sinh năm 1982, đăng ký thường trú tại khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre. Do là tài sản liên quan đến việc phạm tội, do phạm tội mà có.
- - Buộc bị cáo Trần Minh Đ phải nộp lại cho ngân sách nhà nước tổng số tiền mà bị cáo Hồ Thị S đưa cho bị cáo Trần Minh Đ nhằm thực hiện hành vi phạm tội, do hành vi phạm tội mà có tổng cộng là 821.000.000 đồng, trừ đi số tiền 538.721.112 đồng, gồm: 385.721.112 đồng (đã sung vào ngân sách nhà nước) + 153.000.000 đồng nộp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử mà bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả trước đó. Ghi nhận bị cáo Hồ Thị S tự nguyện nộp số tiền
5.000.000 đồng để cùng với bị cáo Đ khắc phục hậu. Bị cáo Đ còn phải nộp số tiền là 282.278.888 đồng - 5.000.000 đồng = 277.278.888 đồng.
- + Đối với số tiền bị cáo Trần Minh Đ đã bỏ ra chi phí làm các hồ sơ đất đai với số tiền là 282.765.907 đồng đây là số tiền bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nhằm làm được 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như thỏa thuận với bị cáo Hồ Thị S ngay ban đầu nên không trừ vào phần bị cáo Trần Minh Đ còn phải nộp nên phải bị tịch thu sung ngân sách nhà nước, số tiền này hiện được được nhập vào ngân sách nhà nước.
- + Do hành vi phạm tội của bị cáo nên Ủy ban nhân dân huyện B đã ra quyết định miễn giảm tiền sử dụng đất 385.721.112 đồng, gây thiệt hại cho nhà nước số tiền 385.721.112 đồng. Hiện UBND huyện B đã ra quyết định thu số 658/QĐ-UBND ngày 05/3/2024 hủy quyết định miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với 09 quyết định, trong đó có Quyết định số 3461/QĐ-UBND ngày 06/11/2019 và Quyết định số 320/QĐ-UBND ngày 28/2/2020 về việc giảm tiền sử dụng đất đối với 02 thửa đất do bà Hồ Thị T3 và bà Trần Thị Bé N1 đứng tên, đồng thời đã kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B thu hồi 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Xuân T4 và bị cáo Hồ Thị S nên hiện tại Ủy ban nhân dân huyện B không còn thiệt hại nên số tiền 385.721.112 đồng bị cáo Đ nộp khắc phục hậu quả đã được tính để khấu trừ như đề nghị phần trên.
- - Ghi nhận bị cáo Trần Minh Đ đã tự nguyện giao nộp tổng số tiền 538.721.112 đồng, gồm: 385.721.112 đồng (đã sung vào ngân sách nhà nước) + 153.000.000 đồng nộp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và ghi nhận bị cáo Hồ Thị S giao nộp 5.000.000 đồng cùng với bị cáo Đ để khắc phục hậu quả.
- - Tiếp tục tạm giữ số tiền 158.000.000 đồng (của bị cáo Đ 153.000.000 đồng nộp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, của bị cáo S 5.000.000 đồng nộp trong giai đoạn truy tố) để đảm bảo thi hành án.
* Về trách nhiệm dân sự: Không.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã xác định. Trong tổng số tiền 821.000.000 đồng mà bị cáo nhận từ bị cáo Hồ Thị S, bị cáo đã đóng thuế theo yêu cầu của Cơ quan thuế và các chi phí làm hồ sơ hết số tiền là 282.765.907 đồng, nộp khắc phục số tiền đã miễn giảm chuyển mục đích sử dụng đất làm thiệt hại cho nhà nước số tiền là 385.721.112 đồng, còn lại 152.512.981 đồng. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo đã nộp thêm số tiền 153.000.000 đồng. Bị cáo cho rằng, Bản kết luận điều
tra và Cáo trạng quy kết bị cáo hưởng lợi số tiền 538.234.093 đồng là bất lợi cho bị bị cáo vì bị cáo đã dùng số tiền 282.765.907 đồng trong số tiền 538.234.093 đồng để đóng thuế. Vì vậy Cơ quan điều tra (CQĐT) xác định bị cáo dùng số tiền này làm công cụ phạm tội là không chính xác. Bị cáo cũng không hưởng lợi cá nhân số tiền này. Bị cáo yêu cầu HĐXX xem xét khấu trừ số tiền 282.765.907 đồng cho bị cáo khi buộc bị cáo có trách nhiệm nộp lại cho ngân sách nhà nước. Đối với số tiền bị cáo nhờ vợ là Nguyễn Thị T1 giao cho bà Trần Thị Bé N1 là 200.000.000 đồng và Nguyễn Thị L1 khoảng 221.000.000 đồng, bị cáo không yêu cầu nhận lại, khi nào có yêu cầu sẽ tự thỏa thuận với bà Bé N1, bà L1 hoặc kiện bằng vụ án dân sự khác. Đối với 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi đã được chuyển mục đích sử dụng đất do bị cáo S và bà Nguyễn Thị Xuân T4 (con gái bị cáo S) đứng tên đã được CQĐT tạm giữ, do đây là tài sản của bị cáo S và bà T4 nên bị cáo không có ý kiến. Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hồ Thị S đã thừa nhận toàn bộ hành vi đồng phạm cùng bị cáo Trần Minh Đ thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã xác định. Đối với số tiền 821.000.000 đồng mà bị cáo đưa cho bị cáo Đ để làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất thì bị cáo yêu cầu bị cáo Đ trả lại cho bị cáo. Đối với số tiền 300.000.000 đồng trong tổng số tiền 821.000.000 đồng mà bị cáo đưa cho bị cáo Đ, đây là tiền của Nguyễn Thị Xuân T4, bị cáo và T4 sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Đối với 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bị cáo và Nguyễn Thị Xuân T4 đứng tên, hiện do CQĐT tạm giữ thì bị cáo xin nhận lại. Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân huyện B là ông Trần Văn L – Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường trình bày: Hành vi của bị cáo Trần Minh Đ và Hồ Thị S đã gây thiệt hại cho Nhà nước tổng số tiền là 385.721.112 đồng (theo Quyết định số 3461/QĐ-UBND ngày 06/11/2019 và Quyết định 320/QĐ-UBND ngày 28/2/2020 miễm giảm tiền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện B). Ngày 05/3/2024, Ủy ban ban nhân dân huyện B đã ra Quyết định số 658/QĐ-UBND về việc hủy quyết định miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với 09 Quyết định, trong đó có Quyết định số 3461/QĐ-UBND ngày 06/11/2019 và Quyết định 320/QĐ-UBND ngày 28/2/2020 về việc giảm tiền sử dụng đất đối với 02 thửa đất do bà Hồ Thị T3 và bà Trần Thị Bé N1 đứng tên (sau đó bị cáo
Trần Minh Đ có nộp toàn bộ số tiền Nhà nước bị thiệt hại là 385.721.112 đồng) nên Ủy ban nhân dân huyện B không còn thiệt hại và cũng không có yêu cầu gì khác. Về trách nhiệm hình sự, yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Bé N1 trình bày: Năm 2019, bị cáo Đ (là anh rể của bà) thấy gia đình bà và bà Hồ Thị T3 (là mẹ ruột của bà) có hoàn cảnh khó khăn nên có bàn với chị em trong nhà để bị cáo Đ làm hồ sơ đất, sử dụng chế độ chính sách gia đình liệt sĩ được miễn giảm tiền chuyển mục đích sử dụng đất, lấy tiền được giảm về cho bà và bà T3 để sửa lại nhà cửa. Gia đình bà đồng ý nên để cho bị cáo Đ làm. Theo hướng dẫn của bị cáo Đ thì bà có đưa các giấy tờ thân nhân liệt sĩ của bà (liệt sĩ Trần Văn C là cha ruột bà) cho bị cáo Đ để bị cáo Đ thực hiện các thủ tục. Còn thủ tục, các loại giấy tờ khác, cách thức bị cáo Đức tự thực hiện bà hoàn toàn không biết. Các chữ ký trong các loại giấy tờ như hợp đồng chuyển nhượng, các giao dịch nộp thuế, nộp tiền... liên quan đến thửa đất 353 đều không phải do bà ký ra. Bà không biết các chữ ký và chữ viết tên của bà trong các loại giấy tờ liên quan đến việc chuyển mục đích sử dụng đất là do ai ký và viết ra. Sau khi hoàn thành việc chuyển mục đích sử dụng đất thì bị cáo Đ có cho bà 200.000.000 đồng và bà Nguyễn Thị L1 khoảng 221.000.000 đồng để sửa chữa lại nhà cửa. Bà không biết số tiền này do bị cáo Đ hưởng lợi là từ hành vi phạm tội mà có, mà chỉ nghĩ do chế độ liệt sĩ có được. Đối với số tiền 200.000.000 đồng nhận của bị cáo Đ, do bị cáo Đ không yêu cầu bà hoàn trả lại nên bà không có ý kiến. Khi nào bị cáo Đ có yêu cầu nhận lại thì bà sẽ thỏa thuận trả lại sau.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L1 trình bày: Bị cáo Đ là em rể của bà. Bà thống nhất với lời trình bày của bà Bé N1. Về thủ tục, các loại giấy tờ khác, cách thức bị cáo Đức tự thực hiện, các chữ ký trong các loại giấy tờ như hợp đồng chuyển nhượng, các giao dịch nộp thuế, nộp tiền....liên quan đến thửa đất 307, 352, 353 đều không phải do bà Hồ Thị T3 ký ra và cũng không phải do bà ký thay bà Hồ Thị T3. Bà không biết các chữ ký và chữ viết tên của bà Hồ Thị T3 trong các loại giấy tờ liên quan đến việc mua bán, tách thửa, chuyển mục đích sử dụng đất, nộp thuế là do ai ký và viết ra. Sau khi hoàn thành việc chuyển mục đích sử dụng đất thì bị cáo Đ đưa cho bà số tiền khoảng 221.000.000 đồng để sửa chữa lại nhà cho bà Hồ Thị T3 và 200.000.000 đồng cho bà Trần Thị Bé N1 để sửa chữa lại nhà cửa của bà Bé N1. Bà không biết số tiền này do bị cáo Đ hưởng lợi là từ hành vi phạm tội mà có, mà chỉ nghĩ do chế độ liệt sĩ có được. Đối với số tiền khoảng 221.000.000 đồng nhận của bị cáo Đ, do bị cáo Đ không yêu cầu bà hoàn trả lại
nên bà không có ý kiến. Khi nào bị cáo Đ có yêu cầu nhận lại bà sẽ thỏa thuận trả lại sau.
Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Thị T3 trình bày: Vào năm 2019, bà Nguyễn Thị L1 có sửa chữa nhà và mua sắm đồ đạc trong nhà cho bà. Còn nguồn tiền từ đâu bà không biết.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T1 trình bày: Bà là vợ của bị cáo Đ. Bà thống nhất với lời trình bày của bị cáo Đ, bà L1, bà Bé N1. Bà không biết cách thức, thủ tục bị cáo Đ thực hiện để chuyển nhượng đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Bị cáo Đ có đưa cho bà 400.000.000 đồng để nhờ đưa lại cho bà Trần Thị Bé N1 số tiền 200.000.000 đồng để sửa chữa nhà bà Bé N1 và đưa cho bà Nguyễn Thị L1 số tiền 200.000.000 đồng để sửa lại nhà cho bà Hồ Thị T3, ngoài ra còn số tiền khoảng 21.000.000 đồng bà cũng đưa cho bà Nguyễn Thị L1 để mua sắm đồ đạc trong nhà. Bị cáo Đ có nói tiền này là tiền của bị cáo S cho, hoàn toàn không biết tiền này là do bị cáo Đ lợi dụng chính sách liệt sĩ mà có. Đối với các chữ ký trong các hồ sơ chuyển nhượng đất từ bà S sang bà T3, từ bà T3 sang bà Bé N1, từ bà Bé N1 sang bà T4 và từ bà T3 sang bà T4 thì bà không biết do ai ký thay bà T3 và bà Bé N1.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Xuân T4 trình bày: Năm 2019, bị cáo S có kêu bà đưa 300.000.000 đồng để bị cáo S làm chuyển mục đích sử dụng đất và hứa cho bà 01 sổ đất khi đã chuyển đổi xong. Còn bị cáo Đ và S thỏa thuận như thế nào bà hoàn toàn không biết. Bị cáo S có đưa cho bị cáo Đ 03 lần tiền tổng cộng là 821.000.000 đồng. Đối với các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất liên quan đến thửa đất bà được đứng tên (thửa 352, 553(8)) thì bị cáo Đ trực tiếp mang đến nhà cho bà ký tên, bà không biết chữ ký bên người chuyển nhượng là giả, không biết người chuyển nhượng là ai và không có lần nào đến Ủy ban nhân dân thị trấn B để ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng cũng như sổ bộ lưu tại Ủy ban nhân dân thị trấn B. Đối với thửa đất số 352 sau khi có sổ đã chuyển thành thửa số 367(8), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính số CX 349624 do bà đứng tên chủ sử dụng bà đã giao nộp cho Cơ quan điều tra để tạm giữ bà yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật. Đối với số tiền khoảng 300.000.000 đồng bà đưa cho bị cáo S thì sẽ thỏa thuận với bị cáo S sau. Còn thửa đất số 353 sau khi có sổ đã bà đã tặng cho lại cho bị cáo Hồ Thị S và chuyển thành thửa số 368(8), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX598525 bản chính do bị cáo bà Hồ Thị S đã giao nộp cho Cơ quan điều tra để tạm giữ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn N trình bày: Ông là chồng của bị cáo Hồ Thị S. Việc bị cáo S và bị cáo Đ thỏa thuận chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất thổ cư và thủ tục thực hiện như thế nào ông không biết. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 307(8) thì ông có ký tên chuyển nhượng cùng với bị cáo S, mục đích ký là do hướng dẫn của bị cáo Đ nói là thành viên trong hộ phải ký tên cùng. Hợp đồng này do bị cáo Đ mang đến nhà cho ông và bị cáo S ký tên không có đến Ủy ban nhân dân thị trấn B ký tên và không có mặt người nhận chuyển nhượng.
Quá trình điều tra, người làm chứng Nguyễn Ngọc B1 trình bày: Bà là con ruột của bị cáo Trần Minh Đ và không biết việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội như thế nào. Số tiền 385.712.112 đồng mà bà thay bị cáo Đ nộp khắc phục hậu quả là của bị cáo Đ. Do đó, bà không liên quan gì trong vụ án.
Quá trình điều tra, người làm chứng Nguyễn Thành L2 trình bày: Các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Hồ Thị S với bà Hồ Thị T3, hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Hồ Thị T3 với bà Trần Thị Bé N1 với bà Nguyễn Thị Xuân T4, giữa bà Trần Thị Bé N1 với bà Nguyễn Thị Xuân T4 ông không có tiếp nhận. Khi có đơn xin miễn giảm tiền sử dụng đất tên bà T3 do bị cáo Đ đưa thì ông có tiếp nhận, sau đó, ông căn cứ vào đơn xin miễn giảm của người có yêu cầu và giấy tờ chứng minh người có công để tham mưu các tờ trình của Ủy ban nhân dân huyện B về việc đề nghị miễn, giảm tiền sử dụng đất. Ông không thực hiện kiểm tra xem xét hoàn cảnh người có công, có khó khăn về nhà ở khi tham mưu tờ trình do không biết Quyết định số 118/QĐ-TTg ngày 27/02/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người có công với cách mạng cải thiện nhà ở và và Quyết định số 117/QĐ-TTg ngày 25/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 118/TTg ngày 27 tháng 02 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người có công với cách mạng cải thiện nhà ở và Điều 3 Quyết định số 20/2000/QĐ-TTg ngày 03 tháng 02 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 cải thiện nhà ở. Khi phòng T7 có Công văn số 968/PTNMT-QLĐ ngày 15/10/2019 yêu cầu xác minh bà T3 có làm hồ sơ chuyển mục đích không, lý do các chữ ký bà T3 khác nhau, thì bị cáo Đ là người trực tiếp soạn và ký tên trả lời sau đó đưa ông lấy số phát hành (Công văn số 277/UBND-ĐC ngày 16/10/2019). Do bị cáo Đ là lãnh đạo có thẩm quyền ký xác nhận nên ông không hỏi gì thêm. Đối với việc đo đạc tách thửa, ông không có tham gia dẫn đạc, Bản mô tả ranh giới mốc
giới thửa đất lập ngày 10/7/2019 cán bộ đo đạc làm xong giao lại cho chủ đất, chủ đất mới đưa hồ sơ cho bộ phận một cửa của Ủy ban nhân dân thị trấn B, sau đó ông mới tiếp nhận và ký tên mục “Người dẫn đạc”, hoàn toàn không biết chủ đất liền kề có ký hiệp thương ranh và chủ sử dụng đất thực tế có mặt và có ký tên chủ sử dụng đất trong Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất hay không. Ông không hưởng lợi gì từ hành vi sai phạm của bị cáo Đ.
Quá trình điều tra, người làm chứng Phạm Trần Khắc P1 trình bày: Hồ sơ tách thửa 307, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại thị trấn B, huyện B là do ông trực tiếp đo đạc, khi đo đạc do bị cáo Trần Minh Đ dẫn đạc, không có cán bộ địa chính dẫn đạc. Tại thực địa, không có chủ sử dụng đất là bà T3 cũng như chủ đất liền kề. Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 10/7/2019 giao lại cho bị cáo Đ, sau đó bị cáo Đ liên hệ chủ đất và chủ đất giáp ranh và đưa cán bộ địa chính ký tiếp theo như thế nào thì ông không biết, do tin tưởng bị cáo Đ là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn B. Ông không hưởng lợi gì từ hành vi sai phạm của bị cáo Đ.
Quá trình điều tra, người làm chứng Đặng Văn T5 trình bày: Hồ sơ tách thửa 307, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại thị trấn B, huyện B của bà Hồ Thị T3 do ông thẩm định đủ điều kiện tách thửa. Việc xác nhận đủ điều kiện tách thửa dựa trên các tiêu chí: Có đầy đủ chữ ký của người có liên quan; diện tích đúng với ban đầu; kiểm tra đối chiếu quy hoạch sử dụng đất là phù hợp với yêu cầu của chủ dụng đất trong đơn nên đủ điều kiện xác nhận tách thửa. Đối với chữ ký của bà Hồ Thị T3 trong Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 10/7/2019 ông không biết là giả. Ông không hưởng lợi gì từ hành vi sai phạm của bị cáo Đ.
Quá trình điều tra, người làm chứng Phạm Thị K1, Trà Thị V và Trịnh Thị Kim N2 trình bày: Vào năm 2019, 2020, chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B có tiếp nhận và trả các hồ sơ đất của bà Hồ Thị T3, Hồ Thị S, Trần Thị Bé N1, Nguyễn Thị Xuân T4. Do thời gian đã lâu và số lượng người dân vào Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai để làm việc nhiều nên không nhớ ai là người đã nộp và đã nhận kết quả của các hồ sơ đất đai của những người có tên nêu trên.
Quá trình điều tra, người làm chứng Trương Tuấn K2 trình bày: Bị cáo Đ có nhờ ông nộp và nhận kết quả hồ sơ thửa đất số 353(8) của bà Trần Thị Bé N1, giấy ủy quyền của bà Bé N1 cho ông do bị cáo Đ ký và trực tiếp đưa bộ hồ sơ để ông đi nộp và nhận kết quả. Ông hoàn toàn không biết bị cáo Đ làm hồ sơ trên để phục vụ cho việc hưởng chế độ miễn giảm tiền chuyển mục đích sử dụng đất.
Bị cáo Đ không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều khoản áp dụng, các tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Kiểm sát viên đã đề nghị đối với bị cáo. Bị cáo chỉ mong Kiểm sát viên cũng như HĐXX khấu trừ số tiền 282.765.907 đồng (tiền thuế) mà bị cáo đã bỏ ra chi phí làm các hồ sơ đất đã cho bị cáo S.
Người bào chữa cho bị cáo S tranh luận: Qua sự việc nhận thấy việc thỏa thuận giữa bị cáo Đ và bị cáo S giống như là hợp đồng dịch vụ. Do vậy, mọi việc do bị cáo Đ làm hết, bị cáo S do nhận thức pháp luật kém, bị cáo không hưởng lợi cùng bị cáo Đ và gia đình vợ bị cáo Đ. Đề nghị HĐXX tuyên bị cáo Hồ Thị S không phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” với vai trò đồng phạm cùng với bị cáo Đ. Yêu cầu bị cáo Đ trả lại số tiền 821.000.000 đồng cho bị cáo S và yêu cầu HĐXX xử lý trả lại 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Cơ quan điều tra tạm giữ cho bị cáo S. Do có đề nghị tuyên bị cáo không phạm tội nên không tranh luận về các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo cũng như hình phạt mà Kiểm sát viên đã đề nghị đối với bị cáo S. Tuy nhiên, sau khi suy nghĩ lại bị cáo S nhận thức được hành vi của bị cáo là hoàn toàn sai, bị cáo nhận tội như Cáo trạng đã xác định đối với bị cáo. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo cũng đã tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri để khắc phục hậu quả cùng bị cáo Đ nên đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ này để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo S thống nhất tranh luận với tranh luận của người bào chữa, do ban đầu bị cáo chưa nhận thức được hết hành vi của bị cáo là sai, qua quá trình xét hỏi cũng như giải thích của HĐXX thì bị cáo đã biết bị cáo sai, nội dụng Cáo trạng xác định bị cáo phạm tội là đúng. Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo do bị cáo tuổi cũng đã cao và có nhiều bệnh trong người.
Qua tranh luận các bên giữ nguyên quan điểm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra và giai đoạn chuẩn bị xét xử, bà Trần Ngọc B tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tại phiên tòa, qua xét hỏi đã xác định rõ bà B chỉ mà người mang tiền của bị cáo Đ nộp khắc phục hậu quả
thay cho bị cáo Đ nên HĐXX xác định lại tư cách của bà Trần Ngọc B trong vụ án là người làm chứng.
[2] Tại phiên tòa: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Thị T3, người làm chứng Nguyễn Ngọc B1 vắng mặt không có lý do. Những người làm chứng Nguyễn Thành L2, Phạm Trần Khắc P1, Đặng Văn T5, Trà Thị V, Trịnh Thị Kim N2, Phạm Thị K1, Trương Tuấn K2 vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, những người vắng mặt đã có lời khai rõ trong quá trình điều tra vụ án. Xét thấy sự vắng mặt của những nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, Căn cứ vào các điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.
[3] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[4] Tại phiên tòa, lời khai nhận của các bị cáo là phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các kết quả giám định, phù hợp với các hóa đơn, chứng từ, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác do Cơ quan điều tra thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Đã đủ cơ sở xác định: Do ý thức xem thường pháp luật và vì động cơ vụ lợi, nên Trần Minh Đ với vai trò là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn B là người có chức vụ, quyền hạn được phân công phụ trách lĩnh vực kinh tế trên địa bàn thị trấn B nhưng Đ đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao đã bàn bạc thống nhất cùng với Hồ Thị S lợi dụng chính sách của nhà nước về miễn giảm tiền sử dụng đất đối với thân nhân liệt sĩ để sử dụng chế độ thân nhân liệt sĩ bên vợ của Đ nên đã giả mạo các chữ ký của Hồ Thị T3, Trần Thị Bé N1 để làm các thủ tục chuyển nhượng, tách thửa, chuyển đổi mục đích quyền sử dụng đất từ đất chuyên trồng lúa sang đất ở đô thị, xin miễn giảm tiền sử dụng đất cho thân nhân liệt sĩ là Hồ Thị T3, Trần Thị Bé N1 rồi chuyển ngược lại cho con bà Hồ Thị S là Nguyễn Thị Xuân T4 dẫn đến việc Ủy ban nhân dân huyện B ra quyết định miễn giảm tiền sử dụng đất 385.721.112 đồng, gây thiệt hại cho nhà nước số tiền 385.721.112 đồng, Trần Minh Đ hưởng lợi 538.234.093 đồng (trong đó, Trần Minh Đ cho bà Trần Thị Bé N1 số tiền 200.000.000 đồng, đưa cho bà Nguyễn
Thị L1 số tiền khoảng 221.000.000 đồng). Còn Hồ Thị S vì động cơ vụ lợi, biết rõ hành vi lợi dụng chính sách thân nhân liệt sĩ của người khác của Trần Minh Đ để làm các thủ tục đất đai cho mình là trái quy định pháp luật nhưng vì thấy hành vi của Trần Minh Đ sẽ mang lại lợi ích cho bản thân, đôi bên cùng có lợi nên đã thoả thuận thống nhất với Trần Minh Đ thông qua việc cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sai quy định và đưa tiền để Trần Minh Đ thực hiện hành vi phạm tội dẫn đến Ủy ban nhân dân huyện B ra quyết định miễn giảm tiền sử dụng đất 385.721.112 đồng, gây thiệt hại cho nhà nước số tiền 385.721.112 đồng. Như vậy giữa S và Đ có sự phân công trách nhiệm cụ thể ngay từ đầu. Thực hiện theo thoả thuận đó S đưa sổ đất và tiền cho Đ, Đ mang hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đến nhà S ký và bà S biết việc ký hợp đồng tại nhà không đi đến Uỷ ban nhân dân thị trấn và không có bên mua, bên bán khi ký hợp đồng là không đúng nhưng S vẫn ký để Đ làm được các thủ tục tiếp theo vì lợi ích như thoả thuận ban đầu dẫn đến việc Ủy ban nhân dân huyện B ra quyết định miễn giảm tiền sử dụng đất 385.721.112 đồng; vụ việc xảy ra vào năm 2019 tại thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri đã truy tố bị cáo Trần Minh Đ, Hồ Thị S về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo điểm c khoản 2 Điều 356 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức và gây thiệt hại, thất thoát về tài sản của nhà nước. Khi thực hiện hành vi, các bị cáo là người đã trưởng thành, đủ tuổi và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo Đ biết rõ hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao đã bàn bạc thống nhất cùng bị cáo S lợi dụng chính sách của nhà nước về miễn giảm tiền sử dụng đất đối với thân nhân liệt sĩ khi chuyển mục đích sử dụng đất và bị cáo S vì động cơ vụ lợi, biết rõ hành vi lợi dụng chính sách thân nhân liệt sĩ của người khác của Trần Minh Đ để làm các thủ tục đất đai cho mình là trái quy định pháp luật nhưng vì thấy hành vi của Trần Minh Đ sẽ mang lại lợi ích cho bản thân dẫn đến thiệt hại về tài sản của nhà nước là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện. Hậu quả xảy ra là như các bị cáo mong muốn. Vì vậy, việc đưa các bị cáo ra xét xử là cần thiết và các bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất hành vi, mức độ và hậu quả mà các bị cáo đã gây ra. Hành vi của các bị cáo đã gây dư luận xã hội không tốt cho UBND thị trấn B và gây thiệt hại cho UBND huyện B. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần xử lý các bị cáo bằng hình
phạt tù giam để cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo nhằm giúp các bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, phòng ngừa chung.
[6] Đây là vụ án có tính chất đồng phạm, Trần Minh Đ là người thực hành trực tiếp thực hiện các hành vi giả chữ ký, tạo lập hồ sơ, ký chứng thực, ký các tờ trình, công văn nhằm thực hiện hành vi phạm tội, Hồ Thị S là người giúp sức thông qua việc bàn bạc thoả thuận thống nhất để Trần Minh Đ lo phần thủ tục, S ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sai quy định, cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cung cấp tiền nhằm mục đích hai bên cùng có lợi, trong đó Trần Minh Đ là người giữ vai trò chính nên chịu trách nhiệm hình sự cao nhất, Hồ Thị S chịu trách nhiệm hình sự kế tiếp.
[7] Về tình tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Trần Minh Đ đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả số tiền 538.721.112 đồng, sau khi gây án bị cáo bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi, quá trình công tác bị cáo có nhiều bằng khen, giấy khen, nhiều năm là chiến sĩ thi đua, bị cáo có đóng góp cho địa phương xây dựng đô thị thông qua việc tự nguyện hiến 79,5m² đất sở hữu của bản thân để làm đường đi công cộng, gia đình bị cáo có nhiều người thân có công với đất nước nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tự nguyện khắc phục hậu quả, người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người phạm tội có thành tích xuất sắc trong công tác quy định tại điểm b, q, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Hồ Thị S ban đầu còn quanh co, đổ hết trách nhiệm cho bị cáo Đ nhưng sau đó đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, sau khi phạm tội tự nguyện giao nộp 5.000.000 đồng để cùng bị cáo Đ khắc phục hậu quả nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tự nguyện khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình. Vì vậy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo S về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật nên được HĐXX chấp nhận. HĐXX sẽ xem xét các tình tiết nêu trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
[9] Do các bị cáo đều có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự nên HĐXX xét thấy cần thiết áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xét xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố cũng đủ sức cải tạo các bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội, nhằm thể hiện sự khoan hồng của nhà nước đối với các bị cáo đã chủ động khắc phục hậu quả khi gây thiệt hại cho nhà nước trong các vụ án kinh tế - chức vụ. Vì vậy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.
[10] Đối với tranh luận của người bào chữa cho bị cáo S và bị cáo S xin được hưởng án treo. HĐXX xét thấy, bị cáo S phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng có khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù, mặc khác HĐXX sau khi đánh giá tính chất hành vi, mức độ, hậu quả do bị cáo thực hiện đã xảy ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nên đã áp dụng khoàn 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo để hạ khung hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, HĐXX không áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo. Do đó, đề nghị của người bào chữa cho bị cáo S và bị cáo S không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không được chấp nhận.
[11] Xét các bị cáo đã quá tuổi lao động, bị cáo Đ đã nghĩ hưu theo chế độ nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ theo khoản 4 Điều 356 Bộ luật Hình sự.
[12] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX598525 tên người sử dụng chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bà Hồ Thị S và 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX349624 tên người sử dụng chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bà Nguyễn Thị Xuân T4, đây là tài sản do phạm tội mà có nên kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B thu hồi. Do đó, đề nghị của xin nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người bào chữa cho bị cáo S và bị cáo S không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không được chấp nhận.
- - Đối với tổng số tiền 821.000.000 đồng mà bị cáo S đưa cho bị cáo Đ nhằm thực hiện hành vi phạm tội để làm các thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất do lợi dụng chính sách thân nhân liệt sĩ gây thiệt hại cho nhà nước nên cần buộc bị cáo Đ giao nộp lại. Khấu trừ số tiền 538.721.112 đồng, gồm: 385.721.112 đồng (đã sung vào ngân sách nhà nước) + 153.000.000 đồng nộp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử mà bị cáo Đ đã nộp để khắc phục hậu quả trước
đó. Còn lại buộc bị cáo Đ phải tiếp tục nộp lại cho ngân sách nhà nước số tiền là: 282.278.888 đồng. Ghi nhận việc bị cáo S tự nguyện nộp 5.000.000 đồng để cùng với bị cáo Đ khắc phục hậu quả. Số tiền bị cáo Đ còn phải nộp là 282.278.888 đồng - 5.000.000 đồng = 277.278.888 đồng.
- - Đối với số tiền bị cáo Trần Minh Đ đã bỏ ra chi phí làm các hồ sơ đất đai với số tiền là 282.765.907 đồng, đây là số tiền bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nhằm làm được 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như thỏa thuận với bị cáo Hồ Thị S ngay ban đầu nên không trừ vào phần bị cáo Trần Minh Đ còn phải nộp nên phải bị tịch thu sung ngân sách nhà nước (số tiền này hiện được được nhập vào ngân sách nhà nước). Vì vậy, yêu cầu khấu trừ của bị cáo không được HĐXX chấp nhận.
- - Ghi nhận bị cáo Trần Minh Đ đã tự nguyện giao nộp tổng số tiền 538.721.112 đồng, bị cáo Hồ Thị S giao nộp 5.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.
- - Tiếp tục tạm giữ số tiền 158.000.000 đồng (của bị cáo Đ 153.000.000 đồng, bị cáo S 5.000.000 đồng) để đảm bảo thi hành án.
[13] Về trách nhiệm dân sự:
- - Đối với số tiền bị cáo Đ nhờ Nguyễn Thị T1 giao lại cho Trần Thị Bé N1 200.000.000 đồng, Nguyễn Thị L1 khoảng 221.000.0000 đồng để sửa lại nhà. Tại tòa, bị cáo Đ không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên HĐXX không xem xét.
- - Đối với số tiền bà Nguyễn Thị Xuân T4 đưa cho bị cáo S 300.000.000 đồng trong tổng số tiền mà bị cáo S đưa cho bị cáo Đ. Tại tòa, bà T4 không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
- - Đối với số tiền 821.000.000 đồng mà bị cáo S giao cho bị cáo Đ nhằm thực hiện hành vi phạm tội. Tại tòa, bị cáo S và người bào chữa cho bị cáo S có yêu cầu bị cáo Đ trả lại. Xét, yêu cầu này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án này nên để bị cáo S khởi kiện bằng một vụ án dân sự khi có yêu cầu.
- - Đối với số tiền gây thiệt hại cho nhà nước số tiền 385.721.112 đồng. Bị cáo Đ đã nộp đầy đủ và tại tòa đại diện bị hại không có yêu cầu gì thêm nên được HĐXX ghi nhận.
[14] Đối với bà Nguyễn Thị L1, bà Trần Thị Bé N1, bà Nguyễn Thị T1, xét thấy bà L1, bà Bé N1 đã có hành vi cung cấp giấy tờ thân nhân liệt sĩ cho bị cáo Đ và sau khi thực hiện xong hành vi phạm tội được bị cáo Đ cho mỗi người
200.000.000 đồng. Tuy nhiên do bà L1, bà Bé N1 không biết bị cáo Đ sử dụng giấy tờ trên để thực hiện hành vi phạm tội, còn bà T1 là người đưa tiền cho bà L1 nhưng bà T1 không biết số tiền trên do bị cáo Đ phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà Nguyễn Thị L1, bà Trần Thị Bé N1 và bà Nguyễn Thị T1 là đúng quy định pháp luật.
[15] Đối với ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Xuân T4, dù ông N là người ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng với vợ là Hồ Thị S nhưng ông N ký tên do chung hộ với Hồ Thị S (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Hồ Thị S là chủ hộ đứng tên). Mặc khác, bị cáo S là người trực tiếp thoả thuận sử dụng chế độ thân nhân liệt sĩ bên vợ Trần Minh Đ, đưa giấy tờ đất đai và tiền để Trần Minh Đ làm các thủ tục nhằm chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất lúa sang đất ở đô thị cho Hồ Thị S, ông N không biết và không tham gia bàn bạc thoả thuận với Trần Minh Đ, ông N chỉ nghe S kể lại việc thoả thuận với Trần Minh Đ nên biết vậy, còn việc quyết định như thế nào là do Hồ Thị S tự quyết định vì ông N cho rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà S đứng tên chủ hộ, quá trình thực hiện chuyển đổi mục đích quyền sử dụng đất giữa bà S với Trần Minh Đ cụ thể như thế nào Nguyễn Văn N hoàn toàn không biết. Còn Nguyễn Thị Xuân T4 chỉ nghe Hồ Thị S kể lại muốn chuyển mục đích quyền sử dụng đất từ đất lúa lên đất thổ cư và nói nhờ ông Trần Minh Đ làm thủ tục chi phí hết khoảng 800.000.000 đồng và kêu T4 đưa cho Hồ Thị S mượn 300.000.000 đồng, khi nào chuyển xong sẽ cho T4 01 thửa nên T4 đồng ý. Nguyễn Thị Xuân T4 hoàn toàn không biết việc Hồ Thị S và Trần Minh Đ thoả thuận sẽ lợi dụng chế độ thân nhân liệt sĩ bên vợ Trần Minh Đ để chuyển đổi mục đích quyền sử dụng đất, cũng không biết quá trình thực hiện chuyển đổi mục đích quyền sử dụng đất giữa bà S với Trần Minh Đ cụ thể như thế nào. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị Xuân T4 là đúng quy định pháp luật.
[16] Đối với ông Nguyễn Thành L2 – nguyên công chức địa chính UBND thị trấn B (hiện là công chức địa chính UBND xã M), Phạm Trần Khắc P1 – Nhân viên Tổ đo đạc, Đặng Văn T5 – Nhân viên Tổ kiểm tra nghiệm thu Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B: Kết quả điều tra xác định năm 2019, ông Nguyễn Thành L2 là công chức địa chính UBND thị trấn B, tuy nhiên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao ông L2 đã không thực hiện đúng quy định của pháp luật, đã tham mưu các tờ trình số 245/UBND-ĐC ngày 12/9/2019 và số 351/UBND-ĐC ngày 30/12/2019 của UBND thị trấn B đề nghị miễn, giảm tiền sử dụng đất cho Hồ Thị T3, Trần Thị Bé N1 là chưa đúng với quy định tại
Quyết định số 118/QĐ-TTg ngày 27/02/1996 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 117/2007/QĐ-TTg ngày 27/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc hỗ trợ người có công với cách mạng cải thiện nhà ở nên không kiểm tra, xem xét hoàn cảnh người có công có khó khăn về nhà ở khi tham mưu các tờ trình trên. Việc đo đạc tách thửa đất 307, tờ bản đồ số 8 toạ lạc thị trấn B của Hồ Thị T3, khi tiến hành đo đạc Nguyễn Thành L2 là công chức địa chính UBND thị trấn B nhưng không tham gia đo đạc (người dẫn đạc) nhưng lại ký vào bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 10/7/2019 là sai quy định theo Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T8 quy định về bản đồ địa chính, Phạm Trần Khắc P1 là cán bộ trực tiếp đo đạc nhưng khi đo đạc thửa đất 307, tờ bản đồ số 8 không mời chủ đất, cán bộ dẫn đạc (Nguyễn Thành L2), chủ đất giáp ranh tham gia nhưng vẫn ký tên trong Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 10/7/2019, biên bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 10/7/2019. Đặng Văn T5 thiếu trách nhiệm kiểm tra và xác nhận hồ sơ đạt yêu cầu trong phiếu ghi ý kiến kiểm tra ngày 15/8/2019 dẫn đến việc tách thửa 307, tờ bản đồ số 8 là chưa đúng quy định theo Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T8 và quy trình hướng dẫn đo đạc, kiểm tra nghiệm thu hồ sơ; Tuy nhiên, xét về tính chất mức độ sai phạm thì việc tách thửa đất 307, tờ bản đồ số 8 là đúng với diện tích trong hồ sơ và thực địa, không gây thiệt hại cho nhà nước, mặc khác Nguyễn Thành L2, Phạm Trần Khắc P1, Đặng Văn T5 không biết hồ sơ trên là do Trần Minh Đ giả mạo chữ ký của bà T3 để thực hiện hành vi phạm tội và không có hưởng lợi ích gì nên hành vi của Nguyễn Thành L2, Phạm Trần Khắc P1, Đặng Văn T5 chưa đến mức xử lý về hình sự nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự mà đề nghị xử lý trách nhiệm khác là đúng quy định pháp luật.
[17] Đối với bà Phạm Thị K1 – Nhân viên phụ trách bộ phận một cửa Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, bà Trịnh Thị Kim N2 - Nhân viên phụ trách tổ hành chính tổng hợp Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B và bà Trà Thị V1 - Nhân viên phụ trạch trả hồ sơ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, do bà K1, bà N2, bà V không biết nội dung các hồ sơ thửa đất 307(8), 352(8), 353(8) liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Đ và S nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là phù hợp với quy định pháp luật.
[18] Đối với ông Trương Tuấn K2 là người được bị cáo Đ nhờ nộp và nhận kết quả thửa đất 353(8) nhưng ông K2 không biết nội dung hồ sơ cũng như không biết bị cáo Đ làm hồ sơ trên để phục vụ cho việc hưởng chế độ miễn giảm
tiền chuyển mục đích sử dụng đất nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là phù hợp với quy định pháp luật.
[19] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo thuộc diện người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Trần Minh Đ và Hồ Thị S phạm “Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.
- Về trách nhiệm hình sự:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, q, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Minh Đ 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù. - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Hồ Thị S 01 (Một) năm 08 (tám) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, q, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B thu hồi: 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX598525 tên người sử dụng chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bà Hồ Thị S, sinh năm 1962, đăng ký thường trú tại khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre và 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX349624 tên người sử dụng chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bà Nguyễn Thị Xuân T4, sinh năm 1982, đăng ký thường trú tại khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- - Buộc bị cáo Trần Minh Đ phải nộp lại cho ngân sách nhà nước tổng số tiền nhằm thực hiện hành vi phạm tội, do hành vi phạm tội mà có tổng cộng là 821.000.000 đồng, trừ đi số tiền 538.721.112 đồng: gồm: 385.721.112 đồng (đã sung vào ngân sách nhà nước) + 153.000.000 đồng nộp trong giai đoạn chuẩn bị
xét xử mà bị cáo Đ đã nộp + 5.000.000 đồng bị cáo S nộp trong giai đoạn truy tố để cùng bị cáo Đ khắc phục hậu quả trước đó. Còn lại buộc bị cáo Đ phải tiếp tục nộp lại cho ngân sách nhà nước số tiền là: 277.278.888 (Hai trăm bảy mươi bảy triệu, hai trăm bảy mươi tám nghìn, tám trăm tám mươi tám) đồng.
- - Bác yêu cầu của bị cáo Trần Minh Đ về việc khấu trừ số tiền 282.765.907 đồng vào tổng số tiền phải nộp lại cho ngân sách nhà nước.
- - Tiếp tục tạm giữ số tiền 158.000.000 đồng (của bị cáo Đ 153.000.000 đồng theo biên lai nộp tiền số 0001278 ngày 04/11/2024, bị cáo S 5.000.000 đồng theo biên lai nộp tiền số 0001272 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri) để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14;
Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm. - Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tấn Tài |
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE về hình sự (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ)
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần MInh Đ + Hồ Thị S "Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ"
