Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG HỒ

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập–Tự do–Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/ HS-ST

Ngày: 13 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • -Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Bằng.
  • -Các hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Phương Thanh.
    2. Bà Nguyễn Thị Út.
  • -Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mỹ Huyền –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
  • -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: Bà Huỳnh Thị Ngọc Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 53/ 2024/ TLST- HS ngày 13 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

  1. Nguyễn Hoàng K, sinh ngày: 12/12/1998. Tại: Vĩnh Long. Tên gọi khác: Không.
  2. Nơi cư trú: Số nhà A, tổ G, ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thạch N, sinh ngày: 01/01/1976 và bà Đỗ Thị Mộng N1, sinh ngày: 08/9/1966; Anh chị em ruột: 03 người lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2006

Tiền sự: 01.

Ngày 20/7/2023 bị Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, chưa chấp hành quyết định.

Tiền án: Không

Ngày 04/6/2024 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “ Trộm cắp tài sản” và quyết định truy nã. Ngày 15/6/2024 bị bắt tạm giữ đến ngày 17/6/2024 chuyển tạm giam cho đến nay.

  1. Phạm Trung T, sinh ngày: 26/6/2000. Tại: Vĩnh Long. Tên gọi khác: Không.
  2. Nơi cư trú: Số nhà A, tổ F, ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Hiếu H, sinh năm: 1978 ( Đã chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh ngày: 15/8/1982 ( còn sống); Anh chị em ruột: 02 người lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2002.

Tiền sự: 02.

Ngày 11/5/2023 bị Ủy ban nhân dân xã H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, chưa chấp hành quyết định.

Ngày 17/5/2023 bị Ủy ban nhân dân xã L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, chưa chấp hành quyết định.

Tiền án: 01

Ngày 10/8/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 13/02/2024.

Ngày 04/6/2024 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L khởi tố vụ án khởi tố bị can và lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú về tội “ Trộm cắp tài sản”. Ngày 05/8/2024 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ ra lệnh bắt bị can để tạm giam từ ngày 06/8/2024 cho đến nay.

-Bị hại:

Anh Trương Quốc S, sinh năm: 2000 ( Vắng mặt).

Nơi cư trú: Khu dân cư N, phường H, Quận N, thành phố Cần Thơ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Phạm Văn H1, sinh năm: 1970 ( Xin vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/7/2023, Nguyễn Hoàng K bị Ủy ban nhân dân xã L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản nhưng chưa chấp hành.

Ngày 10/8/2023, Phạm Trung T bị Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tính chấp hành xong án phạt tù ngày 13/02/2024.

Vào khoảng 19 giờ ngày 26/4/2024, T đến nhà K tại ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long để tổ chức uống rượu. Khi uống gần hết rượu thì K rủ T đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền mua mồi và rượu uống tiếp thì T đồng ý. Tính điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 64H5-4040 của ông Phạm Văn H1, sinh năm 1970, cư trú ấp P, xã H, huyện L chở K ngồi phía sau chạy quanh các công trình xây dựng trong khu công nghiệp H tìm tài sản trộm cắp.

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 27/4/2024, K và T đi đến công trình xây dựng của Công ty M thuộc ấp P, xã H, huyện L thì thấy bên trong hàng rào có nhiều thanh sắt nên dừng lại đậu xe bên ngoài. K và T leo qua khoảng trống hàng rào của công trình đi vào trong lấy trộm 13 thanh sắt chữ V và 01 cái máng sắt của ông Trương Quốc S, sinh năm 2000, cư trú khu dân cư N, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.

Sau khi lấy trộm được tài sản đem ra xe, T điều khiển xe chở K ngồi phía sau ôm tài sản lấy trộm được đi tiêu thụ. Trên đường đi đến khu vực ấp T, xã T, huyện L thì bị lực lượng Công an xã T đang làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện bắt quả tang.

Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận tài sản T và K trộm cắp của anh Trương Quốc S có tổng giá trị là 304.800 đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Hoàng K và Phạm Trung T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với biên bản tiếp nhận về nguồn tin tội phạm, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá và các biên bản ghi lời khai bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản hỏi cung các bị can cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

  • + 01 đoạn sắt chữ V có khích thước 130cm x 40cm x 40cm x 20cm = 3kg;
  • + 10 đoạn sắt chữ V có khích thước 125cm x 40cm x 40cm x 20cm = 27kg;
  • + 02 đoạn sắt chữ V có khích thước 110cm x 40cm x 40cm x 20cm = 4,8kg;
  • + 01 máng sắt có kích thước 55cm x 44cm x 32cm = 3,3kg.
  • + 01 xe mô tô biển kiểm soát 64H5-4040.

Xử lý vật chứng:

Ngày 29/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho ông Trương Quốc S:

  • + 01 đoạn sắt chữ V có khích thước 130cm x 40cm x 40cm x 20cm = 3kg;
  • + 10 đoạn sắt chữ V có khích thước 125cm x 40cm x 40cm x 20cm = 27kg;
  • + 02 đoạn sắt chữ V có khích thước 110cm x 40cm x 40cm x 20cm = 4,8kg;
  • + 01 máng sắt có kích thước 55cm x 44cm x 32cm = 3,3kg.

Ngày 26/7/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Phạm Văn H1 01 xe mô tô biển kiểm soát 64H5-4040

Trách nhiệm dân sự:

Bị hại Trương Quốc S đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu gì thêm.

Xe mô tô biển kiểm soát 64H5-4040 của ông Phạm Văn H1. Việc T và K dùng xe của ông làm phương tiện đi trộm cắp tài sản ông không biết. Ngày 26/7/2024, ông Phạm Văn H1 đã nhận lại xe mô tô biển kiểm soát 64H5-4040 và không có yêu cầu gì thêm.

Cáo trạng số 53/CT-VKS, ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long truy tố: Nguyễn Hoàng K về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Truy tố: Phạm Trung T về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

-Tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đối với hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng. Quá trình điều tra không có ai ép cung các bị cáo.

-Tại phiên Tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ vẫn giữ quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hoàng K, Phạm Trung T. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Phạm Trung T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng K mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2024.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Trung T mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2024.

Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 64H5-4040 đã trả lại cho ông Phạm Văn H1, ông H1 không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng K, Phạm Trung T mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

-Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.

[2].Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Do đó có đủ căn cứ để xác định: Nguyễn Hoàng K có 01 tiền sự, Phạm Trung T có 01 tiền án về tội “ Trộm cắp tài sản”. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 27/4/2024, K cùng T lén lút lấy trộm 13 thanh sắt chữ V và 01 cái máng sắt có tổng giá trị là 304.800 đồng của anh Trương Quốc S tại khu vực ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

Trong quá trình điều tra Nguyễn Hoàng K và Phạm Trung T thừa nhận hành vi lấy trộm tài sản.

Như vậy có đủ căn cứ để xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng K đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khỏan 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; hành vi của bị cáo Phạm Trung T đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khỏan 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3].Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đã xâm phạm đến tài sản, quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo nhận thức được hành vi lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì cần tiền xiêu tài để phục vụ cho nhu cầu cá nhân các bị cáo đã thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của người khác, các bị cáo tuổi đời còn rất trẻ nhưng không biết chí thú tìm công ăn việc làm, tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân, ngược lại bị cáo lại thích hưởng thụ mà lười lao động, đã nhiều lần có hành vi trộm cắp tài sản của người khác, đã bị xử phạt về hành vi “Trộm cắp tài sản” và xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, sau khi bị xử phạt và chấp hành án xong các bị cáo lại tiếp tục phạm tội, sau khi phạm tội các bị cáo không chấp hành theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra. Điều này thể hiện sự xem thường pháp luật của các bị cáo, cho thấy các lần xử phạt trước đây chưa đủ sức răn đe và giáo dục các bị cáo, do đó cần phải có một hình phạt thích đáng để có thời gian giáo dục các bị cáo để trở thành người có ích cho xã hội.

Trong vụ án có đồng phạm, nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, không có sự phân công nhiệm vụ của từng bị cáo, khi bị cáo K đề nghị tìm tài sản lấy trộm thì bị cáo T đồng ý mà không do dự, khi tìm thấy tài sản cả hai bị cáo cùng leo qua khoảng trống của hàng rào vào bên trong để lấy trộm tài sản, trên đường chỡ tài sản đi tiêu thụ thì bị bắt, vai trò của các bị cáo là như nhau.

[4]. Về tình tiết, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không

Tình tiết giảm nhẹ:

Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng K: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản lấy trộm có giá trị không lớn và đã thu hồi trả lại cho bị hại, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với bị cáo Phạm Trung T: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản lấy trộm có giá trị không lớn và đã thu hồi trả lại cho bị hại, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có việc làm nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu.

[7]. Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 64H5-4040 của ông H1, ông H1 không biết bị cáo T lấy xe của ông để đi tìm tài sản lấy trộm, cơ quan điều tra đã trả lại cho ông H1 là đúng với quy định.

[8]. Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9]. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng K, Phạm Trung T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng K mức án 09 ( chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2024.

    Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Phạm Trung T mức án 01 ( Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2024.

  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu giải quyết.
  5. Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 64H5-4040 đã trả lại cho ông Phạm Văn H1, ông H1 không có yêu cầu gì nên không xem xét.
  6. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  7. Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng K, Phạm Trung T mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

  8. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cứ trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • -TAND Tỉnh Vĩnh Long;
  • -VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • -VKSND huyện Long Hồ;
  • -CC THADS huyện Long Hồ;
  • -Công an huyện Long Hồ;
  • -Nhà tạm giữ CA huyện Long Hồ;
  • -Phòng hồ sơ CA tỉnh Vĩnh Long;
  • -Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
  • -UBND xã Hòa Phú-LH-VL;
  • -Bị cáo;
  • -Bị hại;
  • -Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • -Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Võ Công Bằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/ HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 55/2024/ HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger