Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HS - ST

Ngày: 16 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Triệu Cẩm Chi

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Việt Hưng

2. Bà Nguyễn Thị Xuyến

- Thư ký phiên toà: Ông Ma Đình Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lâm Văn H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 12/2/1991; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm K, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lâm Văn Ú (đã chết ngày 31/3/2024) và bà Trần Thị T (biệt tích khỏi nơi cư trú từ năm 1991 đến nay không rõ tung tích); Gia đình có 4 chị em, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình; có vợ là Phùng Thị K, sinh năm 1991 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/11/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên toà).

* Người tham gia tố tụng khác:

1. Bị hại: Ngân hàng TMCP V1 (V2)

Địa chỉ trụ sở: Số H L, phường L, quận Đ, Tp Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng.

Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Nguyễn C, sinh năm 1986 - Chuyên viên Phòng điều tra và Phòng chống gian lận Ngân hàng.

Nơi cư trú: Số I, N, phường N, quận H, thành phố Hà Nội.

(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Đặng Công Quang L, sinh năm 2000

    Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.

    Hiện đang chấp hành án tại Phân trại số 1, Trại giam P, Cục C10.

  • + Phạm Đức V, sinh năm 2002

    Nơi ĐKHKTT: Xóm C, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

    Hiện đang chấp hành án tại Phân trại số 2, Trại giam Q, Cục C10.

  • + Lý Việt A, sinh năm 1996

    Nơi cư trú: Xóm B, xã V, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

  • + Chị Lâm Thị H1, sinh năm 1983

    Nơi cư trú: Tổ B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Đều có mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ khoảng giữa năm 2021, thông qua mạng internet, mạng xã hội Facebook, Z...Đặng Công Quang L biết được nhiều Ngân hàng, Công ty tài chính áp dụng hình thức cho vay tiền trực tuyến, hay còn gọi là vay tiền online (cho vay tiền qua web vay tiền, ứng dụng vay tiền hay còn gọi là APP...) là một loại hình dịch vụ cho phép khách hàng có thể vay tiền mà không cần phải gặp mặt trực tiếp, người vay chỉ cần chuẩn bị kê khai các thông tin cá nhân, các giấy tờ tuỳ thân như Căn cước công dân... mọi thủ tục vay từ đăng ký vay, nộp hồ sơ vay, duyệt khoản vay đều được thực hiện trực tuyến, nền tảng của dịch vụ vay hoàn toàn trên Internet. Cũng qua mạng internet, mạng xã hội Facebook, Z...L đã quen biết nhiều người làm công việc như hỗ trợ lập hồ sơ vay tiền online, vì trên thực tế nhiều người có nhu cầu vay tiền, nhưng lại không biết cách tạo lập hồ sơ vay online qua Internet để được giải ngân. Qua những người L quen biết trên mạng xã hội Facebook, Zalo đó, L đã học được cách thức tạo lập hồ sơ vay tiền online được giải ngân. L sử dụng điện thoại di động thông minh, có kết nối Internet để vào các web vay tiền online hoặc tải các ứng dụng (APP) do các Công ty Tài chính hoặc các Ngân hàng phát hành về điện thoại mục đích để tạo lập các hợp đồng, hồ sơ vay vốn của các Công ty Tài chính, Ngân hàng cho người có nhu cầu vay vốn. Để tạo lập hợp đồng vay vốn có nhiều phương thức có thể sử dụng số điện thoại chính chủ của người vay để trực tiếp đăng ký mở tài khoản trên các APP hoặc phải có mã Code (gồm tài khoản đăng nhập và mật khẩu đăng nhập vào các APP) của các Công ty tài chính, Ngân hàng. L lên mạng xã hội Facebook, Z...nhắn tin trao đổi với một số tài khoản trong các nhóm “Hỗ trợ vay vốn” đặt vấn đề thuê các mã Code (gồm tài khoản và mật khẩu để đăng nhập vào các APP của Ngân hàng, Công ty T1) để L trực tiếp tạo lập hợp đồng vay vốn cho người có nhu cầu vay, sau khi khoản vay được giải ngân thì tuỳ số tiền vay L sẽ được khách hàng trả hoa hồng.

Quá trình hỗ trợ tạo lập hồ sơ vay vốn cho khách hàng, L nhận thấy việc vay vốn không cần phải thế chấp tài sản, thủ tục vay đơn giản hầu như chỉ cần có Căn cước công dân và ảnh chân dung người vay là có thể làm hồ sơ vay; quá trình xét duyệt, giải ngân khoản vay nhanh, người vay không có nợ xấu thì tỷ lệ được giải ngân rất cao; hình thức nhận tiền giải ngân đa dạng, linh hoạt có thể giải ngân về tài khoản ngân hàng, địa điểm thanh toán khác (Cửa hàng, siêu thị là đối tác chi hộ của các Công ty T1, Ngân hàng...) tuỳ theo mong muốn của khách hàng; sau khi vay tiền, đến kỳ hạn thanh toán mà không thanh toán được tiền gốc, lãi theo hợp đồng thì chỉ bị coi là nợ xấu, không bị xử lý về hình sự đối với việc không hoàn trả số tiền cho vay trong các hợp đồng. Từ đó, L nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản là số tiền được giải ngân trong các hợp đồng cho vay trực tuyến nêu trên, bằng cách thức tìm người đang gặp khó khăn về tài chính, có nhu cầu vay tiền, giải thích và thuyết phục họ chọn hình thức vay chiếm đoạt không hoàn trả tiền, tức là sau khi được các Công ty tài chính, Ngân hàng giải ngân thì chiếm đoạt và không trả lại (còn gọi là hình thức vay “Bùng”). Sau khi tìm được người có nhu cầu vay vốn, L thoả thuận chia lợi nhuận với người đứng tên trên hồ sơ vay đó là họ sẽ nhận được một khoản tiền nhất định.

Để tìm khách hàng, người có nhu cầu vay vốn để tạo lập hợp đồng (bao gồm cả vay hoàn trả và không hoàn trả), L tìm và tuyển các cộng tác viên cho mình và hướng dẫn cho các cộng tác viên đăng bài viết lên mạng xã hội Facebook, Z... với nội dung “Hỗ trợ tư vấn làm hồ sơ vay vốn, giải ngân nhanh tại các Công ty T1, H2, MC...” trên trang cá nhân của cộng tác viên đó. Khi người có nhu cầu vay vốn đồng ý vay chiếm đoạt thì các cộng tác viên sẽ lấy thông tin cá nhân như số điện thoại, chụp ảnh hai mặt của Căn cước công dân của người đó gửi cho L. Sau đó L sẽ dùng thông tin của người đó để lên mạng Internet kiểm tra thông tin của người vay (thông tin số tiền đã từng vay, đang vay; vay của tổ chức tín dụng nào; đã trả hay chưa, trả đúng hạn hay không; người vay đang nằm trong nhóm nợ nào...), còn gọi là “check CIC” để biết được người vay có thể được vay trực tuyến tiếp hay không, khả năng được vay bao nhiêu, vay của Công ty T1 hay Ngân hàng nào sẽ được giải ngân.... Trường hợp nếu L không thể tự kiểm tra thông tin được được tại Trung tâm T2 (CIC) sẽ nhờ hoặc thuê một bên thứ ba L quen biết trên mạng xã hội Facebook, Z (L đều không biết tên tuổi, lai lịch, địa chỉ thực tế) kiểm tra giúp, mỗi lần kiểm tra sẽ trả phí từ 30.000 đồng đến 50.000 đồng một lần kiểm tra. Sau khi kiểm tra thông tin, L mới đề nghị các cộng tác viên dẫn người có nhu cầu vay chiếm đoạt không hoàn trả đó đến gặp L để tạo lập hợp đồng vay vốn, sau khi được giải ngân thì chiếm đoạt, chia nhau hưởng lợi.

Bằng phương thức, thủ đoạn nêu trên, từ khoảng đầu năm 2022 Đặng Công Quang L đã tìm và tuyển được Triệu Văn H3Phạm Đức V làm cộng tác viên. L trao đổi với V, H3 tìm người đang gặp khó khăn về tài chính, có nhu cầu vay tiền, giải thích và thuyết phục họ chọn hình thức vay chiếm đoạt không hoàn trả, nếu được sẽ phân chia lợi nhuận.

H3V theo hướng dẫn của L, đăng bài trên các nền tảng mạng xã hội như Zalo, Facebook để tìm kiếm và dẫn những người có nhu cầu vay vốn chiếm đoạt không hoàn trả đến gặp L để tạo lập hợp đồng. Ngoài việc trực tiếp đăng bài lên các tài khoản mạng xã hội để trực tiếp tìm kiếm khách hàng và tìm người có nhu cầu vay chiếm đoạt không hoàn trả. VH3 cũng tuyển thêm cho mình các cộng tác viên và hướng dẫn các cộng tác viên của mình đăng bài lên mạng xã hội Zalo, Facebook với nội dung “Hỗ trợ vay vốn, giải ngân nhanh...” sau khi có người liên hệ thì các cộng tác viên sẽ giải thích về hình thức vay gồm vay hoàn trả hoặc vay không hoàn trả số tiền được giải ngân cho vay và giải thích thêm việc vay không hoàn trả sẽ không bị xử lý, chỉ bị coi là nợ xấu, số tiền được giải ngân sẽ chỉ nhận được thấp hơn số tiền thực tế của hợp đồng vay, còn lại là chi phí làm hợp đồng vay. Khi tạo lập được hồ sơ vay và được giải ngân thì các cộng tác viên sẽ nhận được tiền tuỳ theo số tiền được giải ngân của hợp đồng.

Trong số những người đồng ý làm cộng tác viên cho Việt có L2, theo hướng dẫn của V, Lý Việt A đã dùng tài khoản Facebook cá nhân của mình tên “Lý Việt A” đăng bài với nội dung “Hỗ trợ vay vốn, giải ngân nhanh...”. Sau khi đăng bài, Lý Việt A đã giới thiệu được 02 người lựa chọn hình thức vay chiếm đoạt không hoàn trả cho V để làm hồ sơ trong đó có Lâm Văn H.

Lâm Văn H quen biết Lý Việt A từ trước. Khoảng tháng 8/2022, sau khi thấy Lý Việt A đăng bài trên Facebook cá nhân với nội dung “Hỗ trợ vay vốn, giải ngân nhanh...” do đang cần tiền, nên H đã liên hệ với Lý Việt A để hỏi về việc vay tiền. Sau khi nghe Lý Việt A giới thiệu cho biết có hai hình thức vay vốn là: Vay hoàn trả tức là sau khi nhận được tiền cho vay từ tháng liền kề sau đó sẽ trả tiền gốc và tiền lãi theo quy định của hợp đồng và vay không hoàn trả tức là sau khi nhận tiền cho vay sẽ chiếm đoạt, không hoàn trả tiền gốc và tiền lãi theo quy định nêu trong hợp đồng. Ngoài ra, Lý Việt A còn giải thích thêm việc vay không hoàn trả thì cũng sẽ không bị xử lý gì mà đó chỉ bị coi là có nợ xấu thì Lâm Văn H đã chọn hình thức vay chiếm đoạt không hoàn trả. Lý Việt A đã giới thiệu H cho V và cho V biết H chọn hình thức vay chiếm đoạt không hoàn trả. Sau khi Đặng Công Quang LPhạm Đức V tiến hành kiểm tra thông tin của H (check C1) Đặng Công Quang LPhạm Đức V đã đến phòng trọ của H tại phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên với mục đích để tạo hợp đồng vay vốn online không hoàn trả cho H nhưng L không thực hiện được việc tạo lập hợp đồng cho H. Sau đó L đã lên Facebook và thông qua nhóm “Vay tiền nhanh” trên Facebook L1 đã quen biết và sau đó nhắn tin với một người có tên tài khoản Facebook là “Hưởng” để trao đổi, nhờ “Hưởng” tạo lập hợp đồng vay tiền cho H. L1 và “Hưởng” thống nhất với nhau sẽ tạo hợp đồng vay tiền online cho H với số tiền là 70.000.000 đồng của Ngân hàng TMCP V1 (V2), sau khi tạo lập hợp đồng thành công và được giải ngân “Hưởng” sẽ nhận hưởng lợi số tiền là 24.500.000 đồng. Ngày 08/8/2022, Đặng Công Quang LPhạm Đức V đã dẫn Lâm Văn H đến thành phố Hà Nội để gặp “Hưởng”, địa điểm gặp tại một quán cafe, sau đó “Hưởng” đã dẫn H đến Ngân hàng V2 chi nhánh quận H, thành phố

Hà Nội để đăng ký mở tài khoản ngân hàng mang tên Lâm Văn H với số tài khoản là 0924144673. Sau khi được mở tài khoản tại V2, “Hưởng” đã chiếm đoạt sử dụng tài khoản trên của H và sau đó tiến hành tạo lập hợp đồng vay tiền trên APP của Ngân hàng V2 cho H. Tuy nhiên ngày 08/8/2022 “Hưởng” không tạo lập được hợp đồng cho H nên L, VH lại quay trở về Thái Nguyên. Đến ngày 18/11/2022, Đặng Công Quang LPhạm Đức V cùng Lâm Văn H tiếp tục đến thành phố Hà Nội để gặp “Hưởng” để tiếp tục tạo lập hợp đồng cho H vay tiền trực tuyến của Ngân hàng V2. Tại quán một quán cafe ở thành phố Hà Nội “Hưởng” đã trực tiếp tạo lập hợp đồng vay tiền trực tuyến cho H và điền số tài khoản nhận tiền giải ngân cho vay là số tài khoản 0924144673 mà Ngân hàng V2 cấp cho H trước đó đang do “Hưởng” chiếm đoạt sử dụng. Toàn bộ quá trình thao tác tạo lập hợp đồng vay tiền của H được “Hưởng” thực hiện trực tiếp trên điện thoại có kết nối Internet của “Hưởng”. Đến ngày 21/11/2022, Ngân hàng V2 đã giải ngân số tiền là 70.000.000 đồng vào tài khoản 0924144673 mang tên Lâm Văn H trước đó mở tại Ngân hàng V2 hiện đang do “Hưởng’ chiếm đoạt sử dụng, sau đó số tiền cho vay được giải ngân trên bị trừ số tiền là 3.266.667 đồng là phí bảo hiểm tín dụng khoản vay, còn lại 66.733.340 đồng, “Hưởng” đã chuyển số tiền là 42.233.340 đồng vào tài khoản có số 0852245109 mang tên Lý Văn N mở tại Ngân hàng V2 do Đặng Công Quang L đang chiếm đoạt sử dụng từ trước, “Hưởng” chiếm đoạt số tiền là 24.500.000 đồng, sau đó “Hưởng” chuyển số tiền trên đến tài khoản mang tên Ngô Thành Đ có số [...] mở tại Ngân hàng V3. Sau khi nhận tiền do “Hưởng” chuyển, L đã chuyển số tiền là 22.300.000 đồng cho Lâm Văn H đến tài khoản có số 8506281017830 của H mở tại Ngân hàng A2; Số tiền còn lại là 19.933.340 đồng, L chia cho Lý Việt A là 2.000.000 đồng, Phạm Đức V là 2.000.000 đồng; L chiếm đoạt số tiền là 15.933.340 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên toà L, V, Việt AH xác định ngoài 04 bị cáo không còn người khác biết về hành vi phạm tội nêu trên. Người có tên F là “Hưởng” các bị cáo đều không biết rõ nhân thân, lãi lịch, tên tuổi đầy đủ, địa chỉ cư trú ở đâu, 2 lần gặp mặt tại Hà Nội đều hẹn ngoài quán cafe. Quá trình điều tra xác minh chủ tài khoản mang tên Ngô Thành Đ có số [...] xác định: Ngô Thành Đ, sinh năm 2004, trú tại: Thôn N, xã H, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Tiến hành xác minh triệu tập Đ để làm việc, kết quả Đ và người thân thích của Đ hiện không có ai có mặt tại địa phương, chính quyền địa phương không biết Đ và người thân thích của Đ đã đi đâu làm gì, ở đâu nên không thể triệu tập ghi lời khai đối với Đ để làm rõ về số tài khoản mang tên Đ.

Đối với hành vi phạm tội của Đặng Công Quang L, Phạm Đức V, Lý Việt A cùng các đồng phạm khác đã bị TAND huyện Đại Từ đưa ra xét xử và tuyên bản án số 06/2024/HSST ngày 29/01/2024.

Quá trình điều tra vụ án Lâm Văn H được tại ngoại tại địa phương sau đó bỏ đi khỏi địa phương, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ nhiều lần triệu tập không được, do thời hạn điều tra đã hết nên ngày 27/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra Quyết định số 03/QĐ - HS về việc tách vụ án hình sự đối

với hành vi của bị cáo Lâm Văn H để điều tra. Ngày 13/11/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra Quyết định truy nã đối với Lâm Văn H, ngày 15/11/2023 Lâm Văn H bị bắt theo lệnh truy nã.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Lâm Văn H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: L, V, Việt A, bị cáo H và bị hại chưa thoả thuận, thống nhất được với nhau về trách nhiệm dân sự.

Theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại Ngân hàng TMCP V1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt theo hợp đồng vay vốn tín chấp bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi, cụ thể: Số tiền gốc còn lại hiện nay là 67.148.958 đồng và số tiền lãi tính đến ngày 2/5/2024 là 37,373,173 đồng. Tổng là 104.522.131 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Lâm Văn H đã tác động gia đình nộp cho bị cáo số tiền 20.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho bị hại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ. Ngoài ra, theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án do Ngân hàng TMCP V1 cung cấp và lời trình bày của bị cáo Lâm Văn H tại phiên toà, ngày 20/3/2023 sau khi sự việc phạm tội của các bị cáo bị phát giác, Lâm Văn H đã chủ động nộp cho Ngân hàng TMCP V1 số tiền 7.000.000 đồng, trong đó có 2.851.042 đồng được trừ vào số tiền nợ gốc, do đó số tiền gốc các bị cáo chiếm đoạt ban đầu là 70.000.000 đồng hiện nay còn lại là 67.148.958 đồng theo như yêu cầu nêu trên của bị hại.

Tại phiên toà Đặng Công Quang L, Phạm Đức V, Lý Việt A và bị cáo Lâm Văn H đồng ý bồi thường cho Ngân hàng TMCP V1 số tiền gốc từng bị cáo đã chiếm đoạt, cụ thể: Đặng Công Quang L bồi thường 15.933.340 đồng, Phạm Đức V bồi thường 2.000.000 đồng, Lý Việt A bồi thường 2.000.000 đồng, bị cáo Lâm Văn H bồi thường số tiền 22.300.000 đồng và đề nghị được trừ đi số tiền 2.851.042 đồng nợ gốc bị cáo đã trả cho Ngân hàng trước đó, còn lại bị cáo phải bồi thường số tiền 19.448.958 đồng.

Ngoài ra, tại phiên toà Đặng Công Quang L, Phạm Đức V, Lý Việt A và bị cáo Lâm Văn H đồng ý liên đới chịu bồi thường số tiền thiệt hại khác bao gồm phí bảo hiểm khoản vay là 3.266.667 đồng, tiền phải trả cho người có tên F “Hưởng” để tạo lập hợp đồng cho H là 24.500.000 đồng, tiền lãi trên khoản vay các bị cáo chiếm đoạt tính đến ngày 02/5/2024 là 37,373,173 đồng. Tổng số tiền L, V, Việt A và bị cáo H phải liên đới chịu bồi thường là 65.139.840 đồng, tương ứng mỗi L, V, Việt A và bị cáo H phải bồi thường số tiền 16.284.960 đồng.

Tại phiên toà chị Lâm Thị H1 là người đi nộp thay số tiền 20.000.000 đồng khắc phục hậu quả cho bị cáo Lâm Văn H không có yêu cầu gì đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

- 01 phong bì niêm phong ký hiệu H bên trong có chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2029.

- 01 phong bì niêm phong ký hiệu H1 bên trong chứa 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22.

Hiện toàn bộ số vật chứng trên đang được bảo quản, lưu giữ tại tài khoản và kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo xác định không sử dụng 02 chiếc điện thoại trên vào việc phạm tội.

Tại bản Cáo trạng số 44/CT - VKSĐT, ngày 03/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lâm Văn H về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lâm Văn H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt chính:

Áp dụng điểm đ khoản 2, Điều 290; điểm b, s khoản 1, Điều 51 BLHS; Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 58 BLHS. Xử phạt bị cáo Lâm Văn H từ 15 đến 18 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung đối với bị cáo: Không áp dụng.

Về vật chứng: Áp dụng: Điều 47; 48 BLHS, Điều 106 BLTTHS

Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2029 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22 của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS; các Điều 584, 585, 586, 587; 588, 589 BLDS.

+ Tại phiên toà Đặng Công Quang L, Phạm Đức V, Lý Việt A và bị cáo Lâm Văn H đồng ý bồi thường cho Ngân hàng số tiền gốc từng bị cáo đã chiếm đoạt và liên đới chịu trách nhiệm bồi thường số tiền thiệt hại khác bao gồm phí bảo hiểm khoản vay, tiền trả cho người có tên F “Hưởng”, tiền lãi trên khoản vay các bị cáo chiếm đoạt. Xét thấy, việc các bị cáo nhất trí bồi thường và liên đới chịu bồi thường như trên là tự nguyện và phù hợp với các quy định của pháp luật do đó đề nghị chấp nhận thỏa thuận bồi thường của L, V, Việt A và bị cáo H. Buộc Đặng Công Quang L, Phạm Đức V, Lý Việt A và bị cáo Lâm Văn H bồi thường số tiền gốc từng bị cáo chiếm đoạt và liên đới chịu bồi thường số tiền thiệt hại khác bao gồm phí bảo hiểm khoản vay, tiền trả cho người có tên F “Hưởng”, tiền lãi trên khoản vay L, V, Việt A và bị cáo H đã chiếm đoạt cho bị hại.

+ Ghi nhận bị cáo Lâm Văn H đã nộp số tiền khắc phục hậu quả là 20.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ.

+ Các nội dung khác không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Buộc Đặng Công Quang L, Phạm Đức V, Lý Việt A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật

Trong phần tranh luận bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan.

Trong lời nói sau cùng bị cáo xác định đã ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin lỗi gia đình, xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, xin mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2]. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo, thấy:

Ngày 21/11/2022, Đặng Công Quang L, Phạm Đức V, Lý Việt ALâm Văn H đã sử dụng mạng viễn thông, công nghệ điện tử, điện thoại di động thông minh có kết nối internet để kiểm tra thông tin người có nhu cầu vay Lâm Văn H (check CIC) sau đó tạo lập hợp đồng vay tiền trực tuyến (online) trên ứng dụng (APP) của Ngân hàng TMCP V1 (V2) và đã chiếm đoạt được tổng số tiền là 66.733.340 đồng của Ngân hàng TMCP V1 (V2).

Lời khai nhận tội của bị cáo Lâm Văn H tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của Đặng Công Quang L, Phạm Đức V, Lý Việt A và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản kiểm tra điện thoại, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Lâm Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Nội dung Điều 290 Bộ luật hình sự quy định như sau:

“1. Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong những hành vi sau đây, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

[3]. Xét tính chất vụ án, vai trò và hành vi của bị cáo: Tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của các cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Nên cần được xử lý sao cho đảm bảo tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung. Trong vụ án này các bị cáo là đồng phạm giản đơn, bị cáo Hữu đóng vai trò là người giúp sức cho bị cáo L, V, Việt A.

[4]. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • * Về nhân thân, tiền án, tiền sự: Bị cáo trước khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
  • * Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại mà bị cáo đã chiếm đoạt do đó bị cáo được hưởng 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.

[5]. Về hình phạt:

  • * Về hình phạt chính: Căn cứ hành vi, vai trò, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. HĐXX thấy: Khi lượng hình cần áp dụng hình phạt tù, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung; tuy nhiên, xét bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo đã khắc phục được toàn bộ số tiền gốc bị cáo đã chiếm đoạt, hưởng lợi do đó HĐXX áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được lượng khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo tốt sớm được trở về với gia đình, xã hội để lao động, sản xuất và khắc phục hậu quả cho bị hại.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

  • * Về hình phạt bổ sung: Hành vi phạm tội của bị cáo nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác, tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 290 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự:

Theo quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự: Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra; Theo điều 589 Bộ luật dân sự và Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao quy định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm gồm tài sản bị mất, lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút là hoa lợi, lợi tức mà người bị thiệt hại đang thu nếu tài sản không bị mất, hoa lợi, lợi tức được tính theo giá thực tế đang thu. Việc bồi thường thiệt hại căn cứ vào thỏa thuận của các bên, nếu không thoả thuận được HĐXX xem xét, giải quyết theo quy định.

Bị hại trong vụ án là Ngân hàng TMCP V1 (V4) có yêu cầu bị cáo phải bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt theo hợp đồng vay vốn tín chấp bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi, cụ thể: Số tiền gốc còn lại hiện nay là 67.148.958 đồng và số tiền lãi tính đến ngày 2/5/2024 là 37,373,173 đồng. Tổng là 104.522.131 đồng.

Tại phiên toà Đặng Công Quang L, Phạm Đức V, Lý Việt A và bị cáo Lâm Văn H đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền gốc từng đối tượng đã chiếm đoạt gốc và cùng liên đới chịu trách nhiệm bồi thường số tiền thiệt hại khác bao gồm phí bảo hiểm khoản vay, tiền trả cho người có tên F “Hưởng”, tiền lãi trên khoản vay L, V, Việt AH chiếm đoạt.

HĐXX xét thấy, việc Đặng Công Quang L, Phạm Đức V, Lý Việt A và bị cáo Lâm Văn H nhất trí bồi thường và cùng liên đới chịu bồi thường như trên là tự nguyện và phù hợp với các quy định của pháp luật do đó HĐXX cần chấp nhận, buộc: Đặng Công Quang L bồi thường số tiền gốc là 15.933.340 đồng; Phạm Đức V, Lý Việt A mỗi người bồi thường số tiền gốc là 2.000.000 đồng, bị cáo Lâm Văn H bồi thường số tiền gốc còn lại là 19.448.958 và buộc Đặng Công Quang L, Phạm Đức V, Lý Việt A và bị cáo Lâm Văn H phải liên đới bồi thường khoản phí bảo hiểm khoản vay là 3.266.667 đồng, tiền phải trả cho người có tên F “Hưởng” để tạo lập hợp đồng cho H là 24.500.000 đồng, tiền lãi trên khoản vay L, V, Việt A và bị cáo H chiếm đoạt tính đến ngày 2/5/2024 là 37,373,173 đồng. Tổng số tiền L, V, Việt A và bị cáo H phải liên đới chịu bồi thường là 65.139.840 đồng, tương ứng L, V, Việt A và bị cáo H mỗi người phải bồi thường số tiền 16.284.960 đồng.

Như vậy tổng: Đặng Công Quang L phải bồi thường số tiền 32.218.300 đồng; Phạm Đức V, Lý Việt A mỗi người phải bồi thường số tiền 18.284.960 đồng; bị cáo Lâm Văn H phải bồi thường số toeèn 35.733.918 đồng cho bị hại.

Ghi nhận bị cáo H đã nộp số tiền 20.000.000 đồng bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại. Bị cáo tiếp tục phải nộp thêm số tiền khắc phục hậu quả còn lại theo quy định.

Tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lâm Thị H1 không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7]. Vật chứng của vụ án:

Đối với vật chứng là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2029 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22 quá trình điều tra và tại phiên toà xác định bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội. Tuy nhiên bị cáo còn phải chịu trách nhiệm dân sự và án phí đối với nhà nước nên cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án cho bị cáo.

[8]. Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và Dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Trường hợp bị cáo tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa thì không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền đã tự nguyện nộp.

Đặng Công Quang L, Phạm Đức V, Lý Việt A phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9]. Các nội dung có liên quan khác:

+ Đối với tài khoản Facebook có tên “Hưởng”. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành xác minh, tuy nhiên không xác định được người quản lý và sử dụng tài khoản trên là ai, Đặng Công Quang L, Phạm Đức V, Lýp Việt A1 và bị Lâm Văn H xác định không biết rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ nơi cư trú của người tên “Hưởng” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ không có căn cứ để điều tra làm rõ và xử lý là phù hợp.

+ Số tài khoản Ngân hàng H4 của Ngân hàng V2 mang tên Lý Văn N, quá trình điều tra Như xác định: Bản thân Như không đăng ký và sử dụng tài khoản Ngân hàng V2 có số 0852245109. Tài khoản trên do ai đăng ký và sử dụng Như không biết, nên Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ không đủ cơ sở để xem xét xử lý đối với Lý Văn N là phù hợp.

+ Số tài khoản 102877244018 mở tại Ngân hàng mang tên Ngô Thành Đ. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ tiến hành xác minh và triệu tập Đ để làm việc tuy nhiên Đ và người thân không có mặt tại địa phương, chính quyền địa phương không biết Đ đi đâu làm gì, nên Cơ quan điều tra Công an huyện Đ không thể triệu tập ghi lời khai đối với Đ để làm rõ về số tài khoản

mang tên Đ. Do đó, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ chưa có đủ căn cứ để xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lâm Văn H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 17, Điều 58; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Văn H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 15/11/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Quyết định tạm giam bị cáo Lâm Văn H 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 357; Điều 468; Điều Điều 584, 585, 586, 587, 588, 589 của Bộ luật dân sự; Điều 30 Bộ luật TTHS.

Buộc Đặng Công Quang L phải bồi thường số tiền 32.218.300 đồng; Phạm Đức V phải bồi thường số tiền 18.284.960 đồng; Lý Việt A phải bồi thường số tiền 18.284.960 đồng; bị cáo Lâm Văn H phải bồi thường số tiền 35.733.918 đồng cho bị hại Ngân hàng V4.

Ghi nhận bị cáo Lâm Văn H đã nộp số tiền 20.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 002395 ngày 07/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ để bồi thường cho bị hại Ngân hàng V4. Bị cáo tiếp tục phải bồi thường số tiền khắc phục hậu quả còn lại theo quy định.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2029 được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu H và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22 được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu H1.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng như mô tả trong Quyết định chuyển vật chứng số 41/QĐ - VKS ngày 03/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ và các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

+ Về án phí Hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lâm Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

+ Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Buộc bị cáo Lâm Văn H phải nộp số tiền 786.695 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nộp ngân sách nhà nước.
  • - Buộc Đặng Công Quang L phải nộp số tiền 1.610.915 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nộp ngân sách nhà nước.
  • - Buộc Phạm Đức V phải nộp số tiền 914.248 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nộp ngân sách nhà nước.
  • - Buộc Lý Việt A phải nộp số tiền 914.248 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nộp ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo Lâm Văn H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Đặng Công Quang L, Phạm Đức V, Lý Việt A và chị Lâm Thị H1 báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên bản án. Vắng mặt bị hại Ngân hàng TMCP V1 (V2) báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đại Từ;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an huyện Đại Từ;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Đại Từ;
  • - Chi cục THADS huyện Đại Từ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - UBND xã Cây Thị, huyện Đồng Hỷ;
  • - Bị cáo; bị hại; NCQLNVLD;
  • - Lưu: Hồ sơ, bộ phận Hình sự.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Triệu Cẩm Chi

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HS - ST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 55/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lâm Văn H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger