|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 55/2024/HS-ST Ngày: 11/6/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tô Đông Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
1/Bà Lâm Ngọc Minh
2/Bà Đàm Thu Ánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh Xuân – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lộc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/FORMTEXT 204/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 204 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 204 đối với bị cáo:
Liêu Gia T; giới tính: Nam; sinh năm 1994, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số A T, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; chổ ở: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn T1 và bà Liêu A N; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền án: Khôngtiền sự: Không; bắt tạm giữ ngày 18/01/2004 đến ngày 26/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ 30 phút, ngày 18/01/2024, Đội Cảnh sát điều tra về Ma túy phát hiện trước hẻm S đường L, Phường C Quận A Liêu G đang điều khiển xe mô tô biển số 59Y1-749.96 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần phía sau bên trái có một gói nylon chứa tinh thể không màu nghi là ma túy nên đưa về trụ sở Công an P, Quận A làm việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Liêu Gia T2 khai nhận: do cần ma túy để sử dụng, vào chiều ngày 18/01/2024, T2 liên hệ qua mạng xã hội Facebook với một người phụ nữ tên N1 (không rõ lai lịch) hỏi mua 01 gói ma túy với giá 450.000 đồng. Sau đó, người phụ nữ tên N1 hẹn T2 đến số A đường N, Phường A, quận T để giao ma túy. T2 điều khiển xe xe mô tô biển số: 59Y1-749.96 đến điểm hẹn, tại đây T2 gặp một thanh niên (không rõ lai lịch) giao cho T2 01 gói ma túy sau đó người thanh niên này nhận của T2 số tiền là 450.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T2 cất gói ma túy vào trong túi quần sau bên trái của mình và điều khiển xe về nhà, khi đi đến trước hẻm S L, Phường C, Quận A thì bị Công an P, Quận A phát hiện bắt quả tang gói ma túy trong túi quần sau bên trái của Liêu Gia T2.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Liêu Gia T2 khai nhận mục đích mua ma túy về để sử dụng, T2 đã mua ma túy được 02 lần, lần thứ nhất vào khoảng tháng 01/2024, T2 mua 01 gói ma túy với giá 300.000 để sử dụng; lần thứ hai vào ngày 18/01/2024, T2 tiếp tục mua 01 gói ma túy với giá 450.000₫ về để sử dụng. Cả 02 lần mua ma túy T2 đều liên lạc qua mạng xã hội Facebook với N1 để mua ma túy. T2 chỉ biết N1 thông qua mạng xã hội, qua nói chuyện T2 biết được N1 có bán ma túy nên đã hỏi mua. T2 không biết rõ lai lịch, địa chỉ của N1. Về nam thanh niên giao ma túy, T2 không quen biết và không biết rõ lai lịch người này. Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị Công an quận T phối hợp xác minh, rà soát các đối tượng trên, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy Liêu Gia Tài dương tính với ma túy.
Tại Bản Kết luận giám định số 1597/KL-KTHS ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an Thành phố H xác định: tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy thể rắn, có khối lượng 0,6314 gram loại Methamphetamine.
Vật chứng của vụ án:
- 01 gói niêm phong bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và các bộ điều tra.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng đen, bị cáo sử dụng để liên lạc cá nhân.
- 01 điện thoại di động hiệu S1 màu trắng, bị cáo sử dụng để liên lạc hỏi mua ma túy.
- Tiền Việt Nam: 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) là tiền sử dụng cá nhân của bị cáo.
- 01 chiếc xe mô tô hai bánh biển số 59Y1-749.96 là chiếc xe T2 sử dụng để đi mua ma túy. Theo kết luận giám định số: 1173/KL-KTHS ngày 05/02/2024 của Phòng K Công an T xác định số khung, số máy của chiếc xe trên không bị đục lại số. Xác minh thông tin chủ sở hữu chiếc xe trên do ông Nguyễn Trung T3 (địa chỉ: số F ấp D, xã T, huyện H) đứng tên chủ sở hữu. Ông T3 cho biết có mua và sử dụng chiếc xe trên vào cuối năm 2021 và làm giấy đăng ký xe vào đầu tháng 01/2022. Đến tháng 3/2022 ông T3 bán lại cho Vòng Anh S (địa chỉ: 2 T, Phường A, Quận A) có giấy tờ, hợp đồng ủy quyền công chứng. Qua làm việc ông S cho biết có mua lại chiếc xe trên từ ông Nguyễn Trung T3 và có giấy tờ, hợp đồng ủy quyền công chứng. Sau khi mua chiếc xe trên, vào tháng 4/2022 ông S bán lại cho bị cáo Liêu Gia T2, việc mua bán xe có giấy tờ và hợp đồng ủy quyền công chứng.
Bản cáo trạng số 55/CT-VKSQ11 ngày 25 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo Liêu Gia T2 tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, giữ quan điểm như truy tố, nêu các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Liêu Gia T2 mức án từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (H) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đồng thời đề nghị hướng xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và các bộ điều tra;
- + Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng, bị cáo T2 sử dụng để liên lạc hỏi mua ma túy; 01 chiếc xe mô tô hai bánh biển số 59Y1-749.96 là chiếc xe T2 sử dụng để đi mua ma túy.
- + Trả lại cho Liêu Gia Tài 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng đen, bị cáo sử dụng để liên lạc cá nhân; Tiền Việt Nam: 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) là tiền sử dụng cá nhân của bị cáo T2.
- + Đề nghị miễn phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Liêu Gia T2 đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an Q, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, tang vật thu giữ phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng của Bộ luật hình sự quy định, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của bị cáo Liêu Gia T2 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản lý của nhà nước về các chất ma túy, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo do lười lao động thích được hưởng thụ nên đã sớm đi vào con đường nghiện ngập. Mặt khác ma túy còn làm người sử dụng tự hủy hoại bản thân mà còn ảnh hưởng đến kinh tế gia đình làm cho xã hội phải gánh chịu hậu quả to lớn do ma túy để lại, góp phần làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm lây lan những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với người nghiện ma túy.
Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo và cần thiết phải có một khoảng thời gian cách ly bị cáo khỏi xã hội nhằm tạo điều kiện cho bị cáo học tập, cải tạo phấn đấu trở thành người tốt hơn, từ bỏ con đường nghiện ngập, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Liêu Gia T2 tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân với tổng khối lượng là 0,6314 gram loại Methamphetamine. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo theo tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 có cơ sở và đúng quy định pháp luật.
Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét các tình tiết, tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn phạt bổ sung.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 gói niêm phong bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và các bộ điều tra là vật là vật Nhà nước cấm lưu hành, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy;
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng. Đây là điện thoại T2 sử dụng để mua ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- - Đối với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) là tiền sử dụng cá nhân của bị cáo T2 nên trả lại cho bị cáo T2.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng đen là tài sản cá nhân bị cáo T2 không liên quân đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Liêu Gia T2.
- - Đối với 01 chiếc xe mô tô hai bánh biển số 59Y1-749.96 là chiếc xe Tài sử dụng để đi mua ma túy nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Liêu Gia T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt:
Liêu Gia Tài 01 (Một) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giữ trước đó từ ngày 18/01/2024 đến ngày 26/01/2024.
Căn cứ vào điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- - Tịch thu và tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và các bộ điều tra.
- - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung bên ngoài màu trắng; 01 chiếc xe mô tô hai bánh biển số 59Y1-749.96.
- - Trả lại cho L Gia Tài 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng đen.
- (Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 174/LNK- ĐCSMT ngày 21/2/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).
- - Trả lại cho Liêu Gia T2 số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng N2
- (Theo công văn số 339/ĐCSMT ngày 2102/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q)
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Tô Đông Đức |
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Liêu Gia Tài 01 (Một) năm tù
