Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HS-PT

Ngày: 30/10/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Thực.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Kiên và bà Nguyễn Thị Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 89/2024/HSPT ngày 18 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Lưu Thị N. Do có kháng Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HSST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên, đối với:

- Bị cáo bị kháng nghị:

Lưu Thị N, sinh năm 1991 tại H, Â, Hưng Yên; nơi cư trú: thôn A, xã V, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: không đi học; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn T (đã chết) và bà Ngô Thị C; có chồng đầu là Bùi Huy V và có 03 con (đã ly hôn) và có chồng (hiện tại) là Ma Ngọc T1 và có 03 con;

Tiền án: Ngày 08/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên xử phạt 09 tháng tù (được trừ 03 ngày tạm giữ) về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đang được hoãn thi hành án đến ngày 21/4/2025 (do đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi);

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 12/9/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội chiếm đoạt trẻ em (chấp hành xong hình phạt ngày 30/8/2010). Ngày 07/9/2016 bị Công an thành phố H xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản;

Tạm giữ ngày 22/5/2024 đến ngày 31/5/2024 được thay bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và cấm xuất cảnh. “Có mặt”.

- Bị hại không có kháng cáo:

  1. Cụ Bùi Thị L, sinh năm 1937. “Vắng mặt”;
  2. Cụ Đỗ Thị T2, sinh năm 1929. “Vắng mặt”;
  3. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1951. “Vắng mặt”;

Trú tại: thôn T, xã Q, huyện P, tỉnh Hưng Yên.

Trú tại: thôn D, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên.

Trú tại: thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo: Anh Ma Ngọc T1, sinh năm 1991 (chồng của bị cáo N);

Trú tại: Thôn A, xã V, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền chi tiêu, Lưu Thị N sinh năm 1991, trú tại thôn A, xã V, huyện Â, tỉnh Hưng Yên nảy sinh ý định sang khu vực huyện P xem có ai sơ hở để trộm cắp tài sản. Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2023 đến tháng 5/2024, Lưu Thị N một mình điểu khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại AirBlade màu sơn đỏ-đen, biển số 22F1-385.45 đi sang địa bàn huyện P, tỉnh Hưng Yên và 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 08 giờ ngày 09/12/2023, Lưu Thị N một mình điều khiển xe mô tô Honda loại AirBlade màu sơn đỏ-đen, biển số 22F1-385.45, đội mũ bảo hiểm màu đen sang huyện P. Khi đến địa phận thôn T, xã Q, N phát hiện nhà cụ Bùi Thị L, sinh năm 1937 cửa cổng chỉ khép, không khóa. Nụ dựng xe rồi lén lút mở cổng đi vào, thấy cửa nách của cửa cổng chính (loại cửa nhôm kính) được chốt trong, không khóa. Nụ nghĩ không có ai ở nhà nên đã lấy con dao dùng để chặt bằng kim loại màu đen xám có sẵn tại nhà cụ L, đập vỡ ô kính phía trên của cửa nhôm kính, rồi dùng tay mở chốt cửa đi vào trong nhà cụ L. Nụ phát hiện trên giường trong phòng có chiếc điện thoại Iphone 6 Plus, màu xám N lấy chiếc điện thoại rồi đi vào phòng khách. Lúc này, N quan sát trên nóc tủ đựng quần áo có lắp 01 camera an ninh, nhãn hiệu Imou, loại Ranger SE 2MP (bên trong camera có lắp 01 thẻ nhớ). Do sợ bị camera ghi lại, N rút dây điện rồi cho camera và chiếc điện thoại vào túi áo đang mặc. Nụ tiếp tục dùng dao trên cậy, mở chiếc tủ gỗ trong phòng khách thì thấy bên trong có 01 hộp nhựa hình lục giác đựng số tiền 15.000.000 đồng (gồm các tờ tiền mệnh giá khác nhau từ 10.000 đồng đến 500.000 đồng). Nụ lấy hết tiền cho vào túi áo rồi đi ra điều khiển xe mô tô về nhà. Chiếc điện thoại N lấy để sử dụng, còn số tiền trên N đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Biên bản định giá tài sản số 13/KL-HĐ ngày 12/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 6 Plus 64 GB đã qua sử dụng trị giá 800.000 đồng; 01 Camera nhãn hiệu Imou loại Ranger SE 2MP màu trắng đã qua sử dụng trị giá 500.000 đồng; 01 thẻ nhớ loại 32 GB không xác định được nhãn hiệu đã qua sử dụng không đủ cơ sở để định giá; 01 tấm kính kích thước (60 x 80)cm loại kính hoa dâu dày 05 ly được gắn vào cửa nhôm bị đập vỡ hoàn toàn trị giá 100.000 đồng.

Ngày 09/12/2023, cụ Bùi Thị L đã có đơn trình báo việc khoảng 09 giờ 15 phút ngày 09/12/2023 khi bà L về nhà thì phát hiện kẻ gian đã đột nhập vào nhà lấy trộm 01 điện thoại di động cũ để trên giường ngủ, 01 camera an ninh để trên mặt tủ quần áo và số tiền 15.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 22/5/2024, Lưu Thị N một mình điều khiển xe môtô Honda loại AirBlade màu sơn đỏ-đen, biển số 22F1-385.45 đi đến địa phận thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên. Nụ phát hiện nhà bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1951 cổng và cửa nhà không khóa. Nụ dựng xe trước cổng rồi lén lút đi vào nhà bà S, lúc này bà S đang nằm ngủ một mình trên chiếu trải dưới nền nhà. Nụ tiến lại gần quan sát thấy tại cạp quần bên phải của bà S đeo 01 túi vải, nghĩ trong túi vải này có tiền nên N dùng tay gỡ chiếc kim băng gắn từ dây rút của túi vải với cạp quần của bà S. Sau khi lấy được túi vải, N lùi lại khoảng 02 đến 03 mét thì bà S tỉnh giấc kêu trộm, N liền chạy ra điều khiển xe bỏ chạy. Sau khi chạy thoát, N kiểm đếm tiền trong túi vải thì thấy có số tiền 455.000 đồng (gồm nhiều tờ tiện mệnh giá khác nhau).

Ngày 23/5/2024, bà Nguyễn Thị S có đơn trình báo việc khoảng 14 giờ ngày 22/5/2024 khi bà S đang nằm ngủ tại nhà thì bị đối tượng là nữ vào nhà lấy đi chiếc túi vải bên trong có số tiền là 455.000 đồng.

Vụ thứ ba: Sau khi trộm cắp tiền ở nhà bà S, N lên xe đi đến địa phận thôn D, xã M, huyện P để tiếp tục trộm cắp tài sản. Nụ phát hiện nhà cụ Đỗ Thị T2, sinh năm 1929 không khóa cổng và cửa. Nụ dựng xe cách cổng nhà cụ T2 một đoạn khoảng 10 mét rồi lén lút vào đi nhà thì thấy cụ T2 đang ngủ trên giường tại gian nhà cấp 4. Nụ lẻn vào trong gian buồng mở chốt ngang cửa nách (cửa này tiếp giáp với đầu hè) thấy một chiếc hòm tôn có khóa được đặt trên mặt tủ gỗ trong gian bếp nhà cụ T2. Nghĩ trong hòm tôn có chứa tài sản, N liền bê chiếc hòm tôn lên và đi qua cửa nách ra hè. Khi N đang bê hòm tôn ra đặt lên xe mô tô để chạy thì bị lực lượng Công an huyện P cùng Công an xã M, huyện P phát hiện, bắt quả tang. Tiến hành kiểm tra các tài sản Nụ đã trộm cắp gồm: 01 hòm tôn được khóa bởi 01 chiếc khóa Việt Tiệp màu đen, bên trong hòm tôn có số tiền 5.370.000 đồng (gồm nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng và đưa N về trụ sở để làm việc.

Kết luận định giá tài sản số: 13/KL-HĐĐG ngày 10/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: 01 hòm tôn màu trắng bạc, kích thước (54,5 x 36 x 23)cm đã qua sử dụng trị giá 60.000 đồng; 01 khóa Việt Tiệp màu đen đã qua sử dụng trị giá 20.000 đồng; 01 chiếc túi vải hình chữ nhật, màu đen không có giá trị để định giá.

Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:

  • - Thu giữ tại nhà cụ Bùi Thị L: 01 con dao bằng kim loại màu đen xám, 01 vỏ hộp nhựa trong suốt. Ngày 19/02/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại các tài sản trên cho cụ L.
  • - Bắt quả tang, thu giữ các vật chứng và khám nghiệm hiện trường tại nhà cụ Đỗ Thị Thanh G:
    • + 01 hòm tôn, 01 chiếc khóa Việt Tiệp màu đen và số tiền 5.370.000 đồng. cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại các tài sản trên cho cụ Đỗ Thị T2.
    • + Thu giữ trong túi quần phía trước bên phải Nụ đang mặc: 01 chiếc túi vải hình chữ nhật đã qua sử dụng, bên trong túi có số tiền 455.000 đồng, N khai nhận đây là chiếc túi vải và số tiền mà N trộm cắp được ở nhà bà Nguyễn Thị S vào chiều ngày 22/5/2024. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại chiếc túi cùng số tiền trên cho bà Nguyễn Thị S.
    • + 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại Air Blade màu sơn đỏ đen, biển số 22F1- 385.45 và 01 mũ bảo hiểm màu đen đã qua sử dụng. Các vật chứng trên hiện đang quản lý tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Cừ.
    • + 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô do Công an huyện C, tỉnh Tuyên Quang cấp ngày 22/6/2022 mang tên Ma Ngọc T1 biển số đăng ký: 22F1-385.45 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự đối với xe mô tô biển số 22F1-385.45 đang được quản lý trong hồ sơ vụ án.
  • - Ngày 23/5/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lưu Thị N tại thôn A, xã V, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Kết quả khám xét thu giữ: Tại ngăn tủ trong phòng ngủ của nhà N có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, 64Gb, màu xám, không lắp sim, gắn ốp nhựa màu trắng vàng đã qua sử dụng. N khai nhận đây là chiếc điện thoại mà N trộm cắp tại nhà cụ Bùi Thị L vào ngày 09/12/2023 còn chiếc ốp nhựa điện thoại là của N. cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã thu giữ và trả chiếc điện thoại trên cho cụ L; trả lại chiếc ốp nhựa điện thoại cho N.
  • - Đối với 01 chiếc camera mà N đã trộm cắp của nhà cụ L: N khai nhận sau khi thực hiện hành vi trộm cắp xong bị cáo đã vất chiếc camera trên nhưng không nhớ được vị trí, cơ quan CSĐT Công an huyện P đã tiến hành rà soát, truy tìm vật chứng nhưng không thu giữ được.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HSST ngày 10 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ quyết định:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm b, n, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h, i khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: bị cáo Lưu Thị N phạm tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Lưu Thị N 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, được trừ 09 (chín) ngày đã bị tạm giữ (từ ngày 22/5/2024 đến ngày 31/5/2024), còn phải thi hành là 02 (hai) năm 02 (hai) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đầu thi hành án.

Ngoài ra án còn Quyết định về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 04/10/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên có kháng nghị phúc thẩm số 10/QĐ-VKS-P7 về phần quyết định hình phạt đối với bị cáo Lưu Thị N tại bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HSST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ. Nội dung: Kháng nghị xác định việc Tòa án cấp sơ thẩm không buộc N phải chấp hành hình phạt tại bản án của Tòa án huyện  và tổng hợp với hình phạt của bản án mới là không đúng. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của bộ luật Tố tụng hình sự, sửa phần quyết định hình phạt của bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên vẫn giữ nguyên nội dung kháng nghị. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 67; Khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự buộc bị cáo Lưu Thị N phải chấp hành hình phạt 09 tháng tù (được trừ 03 ngày tạm giữ) về tội trộm cắp tài sản theo bản án hình sự sơ thẩm số 25/2018/HS-ST ngày 08/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi và tổng hợp hình phạt 02 năm 03 tháng tù (được trừ 09 ngày tạm giữ) của bản án số 36/2024/HSST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đúng thẩm quyền và trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày lời khai như đã trình bày tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 09/12/2023 đến ngày 22/5/2024, Lưu Thị N nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cụ thể:

  • - Khoảng 08 giờ ngày 09/12/2023 tại thôn T, xã Q, huyện P, bị cáo Lưu Thị N đã có hành vi trộm cắp của cụ Bùi Thị L 01 điện thoại di động trị giá 800.000 đồng, 01 camera trị giá 500.000 đồng, thiệt hại tấm kính cửa trị giá 100.000 đồng và tiền mặt là 15.000.000 đồng; cộng giá trị tài sản N trộm cắp và gây thiệt hại cho cụ L là 16.400.000 đồng.
  • - Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 22/5/2024, tại thôn T, xã M, huyện P; bị cáo Lưu Thị N đã lén lút chiếm đoạt 01 túi vải bên trong có số tiền 455.000 đồng của bà Nguyễn Thị S.
  • - Khoảng 14 giờ ngày 22/5/2024, tại thôn D, xã M, huyện P, bị cáo Lưu Thị N đã có hành vi trộm cắp của cụ Đỗ Thị T2 01 hòm tôn bên trong có số tiền 5.370.000 đồng, 01 chiếc hòm tôn trị giá 60.000 đồng và 01 khóa Việt Tiệp trị giá 20.000 đồng. Cộng giá trị tài sản bị cáo N chiếm đoạt của cụ Đỗ Thị T2 là 5.450.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị cáo Lưu Thị N đã chiếm đoạt và gây thiệt hại của 03 bị hại nêu trên là 22.305.000 đồng. Bị cáo Lưu Thị N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã cấu thành Tội trộm cắp tài sản. Căn cứ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên đã xử phạt Lưu Thị N 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

[3]. Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên nhận thấy:

Trước khi bị Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ xét xử, bị cáo Lưu Thị N đã bị Tòa án nhân dân huyện Ân Thi xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” với mức hình phạt 09 tháng tù (được trừ 03 ngày tạm giữ) theo bản án hình sự sơ thẩm số 25/2018/HS-ST ngày 08/8/2018. Do N đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi nên được hoãn thi hành án đến ngày 21/4/2025 theo Quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù số 04/2022/QĐ – CA ngày 08/9/2022 của Chánh án TAND huyện Ân Thi.

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 67 của Bộ luật hình sự: “2. Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu người được hoãn chấp hành hình phạt lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 của bộ luật này”. Vì vậy trong vụ án này, khi quyết định hình phạt, Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ phải buộc bị cáo Lưu Thị N chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không buộc N phải chấp hành hình phạt tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 25/2018/HS-ST ngày 08/8/2018 của TAND huyện Ân Thi và tổng hợp với hình phạt của bản án mới là không đúng quy định của pháp luật.

Vì vậy, có cơ sở chấp nhận Kháng nghị số 10/QĐ-VKS-P7 ngày 04/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân tỉnh Hưng Yên về phần quyết định hình phạt.

[4]. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Chấp nhận Kháng nghị số 10/QĐ-VKS-P7 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên. Sửa bản án hình sự sơ thẩm 36/2024/HS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.
  2. Căn cứ:

    Khoản 1 Điều 173; điểm b, n, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h, i khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; khoản 2 Điều 56 ; khoản 2 Điều 67 của Bộ luật Hình sự;

  3. Xử phạt: Bị cáo Lưu Thị N 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, được trừ 09 (chín) ngày đã bị tạm giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt chưa chấp hành là 09 (chín) tháng tù, được trừ 03 (ba) ngày tạm giữ của bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2018/HS-ST ngày 08/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Hình phạt chung bị cáo Lưu Thị N phải thi hành là 3 (ba) năm tù được trừ 12 ngày tạm giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
  4. Về án phí: Bị cáo Lưu Thị N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  5. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I - TAND Tối cao;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - CA, VKS, TAND huyện Phù Cừ (2b);
  • - Chi cục THADS huyện Phù Cừ;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, VP, Tòa HC.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Trung Thực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HS-PT ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về vụ án hình sự phúc thẩm (tội trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 55/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm (Tội trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LTN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger