Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN ND Q.LIÊN CHIỂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST

Ngày 25/7/2024

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Trình

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình

Ông Nguyễn Phạm Hùng

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thái Trâm Anh - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 61/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hoàng ML - Sinh năm: 1995. Địa chỉ: Số 501 Hoàng Văn Thái, tổ 70 Khánh Sơn, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng.

- Bị đơn: Ông Nguyễn ĐT - Sinh năm: 1995. Địa chỉ: Số 501 Hoàng Văn Thái, tổ 70 Khánh Sơn, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng.

(Bà L có mặt, ông T có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Hoàng ML trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng ML và ông Nguyễn ĐT sống với nhau từ năm 2013, đến năm 2015 thì kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn thì sống tại phường Hòa Khánh Nam, thành phố Đà Nẵng.

Quá trình chung sống thì vợ chồng tôi xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không cùng quan điểm sống, bà L khai nhận do ông T ham chơi, không chịu làm ăn, thường xuyên tụ tập bạn bè, sử dụng ma túy dẫn đến nghiệp ngập và phải đi cai nghiện tập trung đến lần thứ 5, ông T không có trách nhiệm với vợ con, bà L xác định vợ chồng đã không có sự quan tâm chăm sóc nhau và không sống chung với nhau đã hơn 01 năm nay. Bà Hoàng ML xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên mong muốn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Nhớ được ly hôn với ông Nguyễn Đức T.

- Về con chung: Bà Hoàng ML xác nhận có 02 con chung: Nguyễn Hoàng ĐT - Sinh ngày 15.8.2013 và Nguyễn Hoàng Anh Thư - Sinh ngày 17.02.2015. Ly hôn, bà Hoàng ML có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu ông Nguyễn ĐT cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Hoàng ML khai nhận không có.

* Bị đơn, ông Nguyễn ĐT trình bày:

Ông Nguyễn ĐT xác nhận, ông và bà Hoàng ML kết hôn năm 2015, đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn sống tại 501 Hoàng Văn Thái, phường Hòa Khánh Nam, thành phố Đà Nẵng. Ông T xác nhận vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Ông T đồng ý ly hôn với bà L. Tuy nhiên, hiện nay, ông T đang bị áp dụng biện pháp cai nghiện tại Cơ sở xã hội Bầu Bàng.

- Về con chung: Ông Nguyễn ĐT xác nhận ông và bà Hoàng ML có 02 con chung: Nguyễn Hoàng ĐT - Sinh ngày 15.8.2013 và Nguyễn Hoàng Anh T - Sinh ngày 17.02.2015. Ông Nguyễn ĐT đồng ý giao con chung cho bà Hoàng ML trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông Nguyễn ĐT cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn ĐT xác nhận không có.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng.

+ Về người tham gia tố tụng:

* Đối với nguyên đơn: Chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 234 BLTTDS.

* Đối với bị đơn: Bị đơn đang bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắc buộc tại Cơ sở xã hội Bầu Bàng, có đơn xin vắng mặt. Do vậy, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 227 BLTTDS, chấp nhận xử vắng mặt bị đơn.

+ Về nội dung: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp ly hôn giữa bà Hoàng ML và ông Nguyễn ĐT thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Về người tham gia tố tụng: Ông Nguyễn ĐT có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xử vắng mặt ông Nguyễn Đức T.

[2]. Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng ML đối với ông Nguyễn Đức Trí, thì thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng ML và ông Nguyễn ĐT sống với nhau như vợ chồng từ năm 2013, đến năm 2015 đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn ông bà tiếp tục sống tại phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Theo bà Hoàng ML khai nhận thì quá trình chung sống, vợ chồng ông bà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không cùng quan điểm sống, ông T thường xuyên tụ tập bạn bà, sử dụng ma túy dẫn đến nghiện và phải đi điều trị bắt buộc, bà L khai nhận từ khi cưới đến nay ông T đã bị đưa đi cai nghiện đến lần thứ 5, ông T không có trách nhiệm với vợ con nên vợ chồng ông bà không sống chung với nhau đã 01 năm nay. Bà Hoàng ML xác định tình cảm không còn, đời sống chung vợ chồng đã thực sự trầm trọng không thể khắc phục được nên mong muốn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Đức T.

Ông Nguyễn ĐT thì xác nhận, vợ chồng có mâu thuẫn, có cải nhau, nên vợ ông làm đơn xin ly hôn. Tuy nhiên, ông T không hợp tác, không tham gia các phiên công khai cứ cứ, các phiên hòa giải và sau đó ông T bị đưa đi cai nghiện tại cơ sở xã hội Bầu Bàng Đà Nẵng.

Xác minh tại địa phương, thì: Trước đây, ông Nguyễn ĐT và bà Hoàng ML có cư trú tại địa phương, sống nhà cha mẹ ông Trí, ông bà thường xẫy ra mâu thuẫn, hiện nay ông T bị đưa đi cai nghiện tại cơ sở xã hội Bầu Bàng Đà Nẵng và bà L đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống.

HĐXX xét thấy: Quan hệ hôn nhân là trên tinh thần tự nguyện, cuộc sống vợ chồng là phải do các bên tự nguyện tạo lập, mục đích của hôn nhân là làm cho cuộc sống vui vẽ và hạnh phúc hơn. Việc bà Hoàng ML cho rằng nguyên nhân dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc là do ông Nguyễn ĐT có lối sống buông thả, nghiện ma túy, không có sự quan tâm, chăm sóc gia đình nên cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và bà xác định không còn tình cảm với ông T, nên mong muốn được ly hôn với ông Nguyễn ĐT là có căn cứ, chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông Nguyễn ĐT và bà Hoàng ML đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Hoàng ML được ly hôn với ông Trí, như đề nghị của đại diện VKS quận Liên Chiểu tại phiên tòa là phù hợp.

- Về quan hệ con chung: Bà Hoàng ML và ông Nguyễn ĐT có 02 con chung là Nguyễn Hoàng ĐT - Sinh ngày 15.8.2013 và Nguyễn Hoàng Anh Thư - Sinh ngày 17.02.2015. Ly hôn, bà Hoàng ML có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu ông Nguyễn ĐT cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy, bà Hoàng ML là người có công việc, có thu nhập ổn định, đảm bảo kinh tế để chăm lo đời sống cho con, hiện nay, các con đang ở với bà Hoàng Mỹ L, tại bản tự khai các cháu đều mong muốn được ở với bà Hoàng Mỹ L . Hơn nữa, hiện nay ông Nguyễn ĐT đang bị đưa đi cai nghiện bắc buột tại cơ sở xã hội Bầu Bàng, nên không thể giao con cho ông T chăm sóc, do vậy, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, HĐXX xét giao 02 con chung cho Hoàng ML trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành 18 tuổi. Việc bà Hoàng ML không yêu cầu ông Nguyễn ĐT cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện, nên HĐXX không xét. Sau này, các bên có tranh chấp về việc nuôi con chung và cấp dưỡng thì Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Hoàng ML xác định không có, nên HĐXX không xét.

Sau này, các bên đương sự có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

[3]. Về án phí: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bà Hoàng ML phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện v/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con " của bà Hoàng ML đối với ông Nguyễn Đức T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Hoàng Mỹ L, sinh năm: 1995 được ly hôn với ông Nguyễn Đức Trí, sinh năm: 1995.

(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 21/2015, ngày 12/02/2015 của UBND phường phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật).

2. Về quan hệ con chung: Giao cho bà Hoàng ML trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung: Nguyễn Hoàng Đức Tin - Sinh ngày 15.8.2013 và Nguyễn Hoàng Anh Thư - Sinh ngày 17.02.2015 cho đến khi các con đủ tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi.

Ông Nguyễn ĐT không cấp dưỡng nuôi con chung.

Quyền và nghĩa vụ đối với con chung các bên đương sự được thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

4. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bà Hoàng ML phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ bà L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0000511 ngày 22 tháng 02 năm 2024.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q. Liên Chiểu;
  • - Chi cục THA.DS Q. Liên Chiểu;
  • - UBND P. Hòa Khánh Nam.
  • - Hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Văn Trình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Hoàng Mỹ Linh xin ly hôn với ông Nguyễn Đức Trí
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger