|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23-8-2024 “V/v: Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Kim Chung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Ngọc Khánh, ông Y Dhiễu Hmok.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xiêm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ: Ông Từ Quốc Quyền – Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 75/2024/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị L, sinh năm 1963 – có mặt
Địa chỉ: Thôn B, xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn: Ông Cái Văn T, sinh năm 1964 - vắng mặt
Địa chỉ: Thôn B, xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trịnh Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ngày 11/01/2012, bà Trịnh Thị L và ông Cái Văn T sống với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc. Thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc nhưng từ năm 2020 đến nay vợ chồng phát sinh mâu thuẫn cãi nhau thường xuyên, nguyên nhân do ông T hay uống rượu về chửi bới, xúc phạm và thường xuyên đánh đập bà Trịnh Thị L, bà L đã cố gắng chịu đựng, khuyên nhủ ông T để giữ gìn hạnh phúc gia đình nhưng vợ chồng không thể hàn gắn, nên bà Trịnh Thị L nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà Trịnh Thị L và ông Cái Văn T chưa có con chung.
Về tài sản chung và công nợ: Bà Trịnh Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Cái Văn T mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng đều vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành giải quyết và xét xử vắng mặt ông T theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án tại phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và các quy định của pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, bà Trịnh Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về khởi kiện và thụ lý vụ án: Ngày 01-4-2024 nguyên đơn nộp đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo; ngày 10-4-2024, Toà án Thông báo nộp tạm ứng án phí; cùng ngày nguyên đơn nộp tạm ứng án phí. Tòa án thụ lý vụ án theo quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [3] Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông Cái Văn T vắng mặt đến lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
- [4] Về yêu cầu của đương sự:
- [4.1] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Trịnh Thị L và ông Cái Văn T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, vợ chồng đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống bà Trịnh Thị L xác định vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T hay uống rượu về chửi bới, xúc phạm và thường xuyên đánh đập bà Trịnh Thị L, vợ chồng sống không hợp nhau, không cùng quan điểm sống.
- Qua xác minh tại chính quyền địa phương về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng, thì địa phương cung cấp quá trình sống tại địa phương giữa bà Trịnh Thị L và và ông Cái Văn T có mâu thuẫn, bà Trịnh Thị L đã nhiều lần nhờ ban tự quản thôn và chính quyền can thiệp và hòa giải, tuy nhiên ông T không rút kinh nghiệm mà vẫn chứng nào tật.
- Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà Trịnh Thị L và ông Cái Văn T đã vi phạm đến quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho bà Trịnh Thị L ly hôn ông Cái Văn T là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- [4.2] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chưa có con chung, nên HĐXX không đề cập.
- [4.3] Về tài chung và công nợ chung: Bà Trịnh Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đề cập.
- [5] Về án phí: Nguyên đơn bà Trịnh Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Bị đơn Cái Văn T không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị L được ly hôn với ông Cái Văn T.
- 2. Về con chung: Bà Trịnh Thị L và ông Cái Văn T không có con chung, nên HĐXX không đề cập giải quyết.
- 3. Về tài sản chung và công nợ chung: Bà Trịnh Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đề cập xem xét.
Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Nguyên đơn bà Trịnh Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2023/0001437 ngày 10-4-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B.
Bị đơn ông Cái Văn T không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Kim Chung |
Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn
- Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà L yêu cầu ly hôn với ông T
