|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30-8-2024 V/v Ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Liên.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Trần Văn Cương
Ông Dương Tấn Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 105/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Huân C - Sinh năm 1990 - Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt ngày 02-8-2024).
- Bị đơn: Bà Phạm Hồng L - Sinh năm 1990 - Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19-4-2024, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn là ông Nguyễn Huân C trình bày: ông C và bà Phạm Hồng L cưới nhau, sau đó đăng ký kết hôn ngày 28-7-2014 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã B, huyện Đ, tỉnh Long An. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống, thường xuyên gây cãi nhau, mất hạnh phúc gia đình. Ông C và bà L đã sống riêng từ năm 2018 đến nay. Về hôn nhân: ông C yêu cầu ly hôn với bà L. Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Phạm Tuyết N, sinh ngày 11-01-2015 (đang sống với ông C) và Nguyễn Phạm Đông N, sinh ngày 30-12-2015 (đang sống với bà L). Ông C yêu cầu trực tiếp nuôi cháu Tuyết N, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung. Ông C đồng ý để bà L nuôi cháu Đông N, ông C không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có.
Bà Phạm Hồng L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình thụ lý, thời gian chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: mâu thuẫn giữa ông C và bà L đã trầm trọng, không có cơ hội đoàn tụ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông C, giao cho ông C nuôi cháu Tuyết N, giao cho bà L nuôi cháu Đông N. Ghi nhận tạm thời việc ông C, bà L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thẩm quyền: ông Nguyễn Huân C khởi kiện yêu cầu ly hôn bà Phạm Hồng L. Bà L cư trú tại huyện Đức Huệ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Bà L đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án gồm thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải (02 lần) nhưng không có mặt để tham gia hòa giải. Vì vậy đây là vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ông C có đơn xin xét xử vắng mặt, bà L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.
[3]. Xét yêu cầu ly hôn của ông C: ông C và bà L xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn ngày 28-7-2014 tại UBND xã B, huyện Đ, tỉnh Long An nên quan hệ hôn nhân giữa ông C và bà L là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Ông C cho rằng vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2018 và ông C đã sống riêng với bà L từ năm 2018 đến nay là phù hợp với nội dung biên bản xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân. Tòa án đã triệu tập bà L để hòa giải hai lần nhưng bà L vẫn vắng mặt, bỏ mặc, không có ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh về quan hệ hôn nhân giữa bà và ông C. Xét mâu thuẫn giữa ông C và bà L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của ông C có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4]. Về con chung: Ông C yêu cầu trực tiếp nuôi Nguyễn Phạm Tuyết N, sinh ngày 11-01-2015 (đang sống với ông C), giao cho bà L nuôi Nguyễn Phạm Đông N, sinh ngày 30-12-2015 (đang sống với bà L). Bà L vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến về con chung. Vì vậy để đảm bảo sự ổn định và phát triển của con chung thì giao cho ông C trực tiếp nuôi Nguyễn Phạm Tuyết N và giao cho bà L nuôi Nguyễn Phạm Đông N. Ông C và bà L mỗi người đều nuôi 01 con chung, không bên nào cung cấp chứng cứ về điều kiện kinh tế nuôi con nên tạm thời không buộc bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[5]. Về tài sản chung: Ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và cho rằng không có nợ chung. Bà L vắng mặt tại phiên tòa, không thể hiện ý kiến về tài sản và nợ nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết về tài sản và nợ trong vụ án này. Nếu sau này giữa ông C và bà L có phát sinh tranh chấp về tài sản hoặc về nợ thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
[6]. Với những nhận định trên, đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông C và giao cho ông C và bà L mỗi người nuôi 01 con chung là có cơ sở chấp nhận.
[7]. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông C là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án) nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông C đã nộp. Bà L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Huân C đối với bà Phạm Hồng L về việc “ly hôn”;
Về hôn nhân: Cho ông Nguyễn Huân C được ly hôn với bà Phạm Hồng L.
Về nuôi con chung: ông Nguyễn Huân C được quyền trực tiếp nuôi 01 con chung tên Nguyễn Phạm Tuyết N, sinh ngày 11-01-2015, hiện đang sống với ông C. Bà Phạm Hồng L được quyền trực tiếp nuôi 01 con chung tên Nguyễn Phạm Đông N, sinh ngày 30-12-2015, hiện đang sống với bà L.
Ghi nhận tạm thời việc ông Nguyễn Huân C và bà Phạm Hồng L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông C, bà L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết, vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, ông C và bà L được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Huân C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004451 ngày 27-5-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ.
- Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Bích Liên |
Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Huân C đối với bà Phạm Hồng L về việc “ly hôn”; Về hôn nhân: Cho ông Nguyễn Huân C được ly hôn với bà Phạm Hồng L. Về nuôi con chung: ông Nguyễn Huân C được quyền trực tiếp nuôi 01 con chung tên Nguyễn Phạm Tuyết N, sinh ngày 11-01-2015, hiện đang sống với ông C. Bà Phạm Hồng L được quyền trực tiếp nuôi 01 con chung tên Nguyễn Phạm Đông N, sinh ngày 30-12-2015, hiện đang sống với bà L. Ghi nhận tạm thời việc ông Nguyễn Huân C và bà Phạm Hồng L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
