|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2024/DSPT Ngày: 17/7/2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, yêu cầu công nhận HĐCNQSD đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Hà
Các Thẩm phán: Ông Phạm Cao Gia
Ông Lê Trúc Lâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sáu, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2024/DSST ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 584/2024/QĐ- PT ngày 13 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thanh T, sinh năm 1981; Địa chỉ: Khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hương Q, sinh năm 1977; Địa chỉ: C M, Phường E, thành phố T, Phú Yên và bà Phan Lê Mỹ D, sinh năm 1999; Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Ông Q có mặt, bà D vắng mặt.
- Bị đơn: ông Hồ Công N, sinh năm 1975, bà Nguyễn Thị Kim D1, sinh năm 1978; Địa chỉ: B N, khu phố L, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Ông N vắng mặt, bà D1 có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Ông Đậu Quốc B, sinh năm 1982; Địa chỉ: A N, phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Ông Đậu Quốc B, sinh năm 1982.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh T trình bày:
Do quan hệ quen biết, làm ăn, bà T cho vợ chồng ông Hồ Công N, Nguyễn Thị Kim D1 vay số tiền 4.410.000.000 đồng (Bốn tỷ bốn trăm mười triệu đồng). Các khoản vay này bà cho vay nhiều lần, có giấy tờ chuyển khoản của Ngân hàng, thời gian vay từ năm 2022. Sau đó, ngày 21/3/2023, ông N, bà D1 mới ký giấy mượn tiền, số tiền là 4.410.000.000 đồng, hẹn đến ngày 01/12/2023 trả nợ. Trong ngày 21/3/2023, vợ chồng ông N, bà D1 cũng vay của bà số tiền 345.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi lăm triệu đồng) theo giấy mượn tiền ngày 21/3/2023, hẹn ngày 01/6/2023 trả. Khi vay là ở nhà bà D1 nhưng ông N không có ở nhà nên chỉ có mình bà D1 ký, ông N cũng biết.
Ông N, bà D1 chưa trả nợ nên bà khởi kiện yêu cầu buộc ông Hồ Công N, bà Nguyễn Thị Kim D1 trả toàn bộ số tiền nợ gốc là 4.755.000.000 và số tiền lãi vay theo quy định của pháp luật. Thời gian tính lãi từ thời điểm bà D1, ông N mượn tiền ngày 21/3/2023 cho đến khi trả nợ xong.
Ngày 04/7/2023, bà T có đơn kiện bổ sung: Ngoài số tiền vay nêu trên, bà T còn cho vợ chồng ông N, bà D1 vay 1.000.000.000 đồng vào năm 2019 theo giấy mượn tiền ngày 10/11/2019, nhưng nay chưa trả. Do đó, yêu cầu bà D1, ông N phải trả nợ lãi theo lãi suất 10%, tính từ ngày vay cho đến khi trả nợ xong.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim D1 trình bày:
Giấy mượn tiền ngày 21/3/2023, số tiền 4.410.000.000 đồng: Bà D1 xác nhận có nợ bà Huỳnh Thị Thanh T số tiền này, mượn nhiều lần từ năm 2022 đến nay, thời điểm chính xác thì không nhớ nhưng có giấy chuyển khoản từ bà T qua tài khoản của bà nên bà xác nhận có mượn. Trong quá trình làm ăn, bà D1 nhiều lần vay mượn qua lại, khi mượn, có trả ít, trả nhiều nhưng đến Tết năm 2023, do làm ăn khó khăn nên bà D1 chưa trả lãi được cho bà T. Ngày 21/3/2023, bà D1 đồng ý ký giấy mượn số tiền 4.410.000.000 đồng, thoả thuận trả nợ ngày 01/12/2023. Giấy vay nợ ngày 21/3/2023 chỉ có bà ký, ông N không đồng ý vì đã ký vào giấy mượn nợ trước đó số tiền nhỏ hơn số tiền này. Bà T giải thích tổng số tiền này bao gồm cả lãi nên bà D1 đồng ý ký tên, ông N thì không đồng ý.
Giấy mượn tiền ngày 21/3/2023, số tiền 345.000.000 đồng: Bà D1 thừa nhận đây là khoản tiền lãi của số tiền 4.410.000.000 đồng đã vay trước đó của bà T. Bà D1 thừa nhận là có nên ký vào giấy mượn tiền này. Lúc đó bạn bè tin tưởng nên cũng ký vào giấy này. Bà D1 đồng ý trả nợ cho bà T số tiền 345.000.000 đồng và lãi theo quy định pháp luật từ ngày 21/3/2023 cho đến khi trả hết nợ.
Bà D1 xác nhận vợ chồng bà có nợ bà T số tiền theo hai giấy nhận nợ ngày 21/3/2023 là 4.755.000.000 đồng, thừa nhận nợ này và đồng ý trả nợ. Thời gian trả nợ theo giấy nhận nợ ngày 21/3/2023 số tiền 4.410.000.000 đồng thì tuy đến tháng 12/2023 mới đến hạn trả nhưng nay bà T yêu cầu phải trả hết số tiền nợ này vào thời điểm Toà án giải quyết thì vợ chồng bà cũng đồng ý trả nợ. Chấp nhận tính lãi theo quy định pháp luật từ thời điểm vay là ngày 21/3/2023 cho đến khi trả nợ xong.
Đối với số nợ 1.000.000.000 đồng ngày 10/11/2019 theo giấy nhận nợ mà bà T cung cấp cho Toà thì bà không đồng ý vì lý do nợ đã quá lâu. Giữa bà và bà T làm ăn với nhau nên tin tưởng, khi bà trả tiền cho bà T thì không lấy lại giấy tờ này. Nay bà T đưa ra, yêu cầu bà trả nợ là không đúng.
Đối với tài sản nhà và đất tại thửa 1989, tờ bản đồ 255-D khu phố mới H, phường I, thành phố T, Phú Yên thì vợ chồng bà đã bán cho ông Đậu Quốc B, giá 6.000.000.000 đồng (Sáu tỷ đồng). Trước đó, khoản vay của chúng tôi tại Ngân hàng đã đến hạn nên nhờ Đậu Quốc B mượn tiền nộp vào Ngân hàng B2 số tiền 3.885.296.671 đồng để tôi trả khoản vay Ngân hàng và lấy sổ ra, tiến hành giao dịch chuyển nhượng đối với nhà và đất của bà tại B N, phường I, thành phố T. Bà T đã yêu cầu ngăn chặn không cho bà sang nhượng tài sản này cho ông B. Bà D1 và ông B vẫn muốn bà T thương lượng, cấn trừ số nợ 4.755.000.000 đồng (Bốn tỷ bảy trăm năm mươi lăm triệu đồng) trong đó có tiền lãi và gốc mà T đã tính cho bà trước giờ, ưu tiên để bà T lấy nhà và đất tại B N, phường I và trả lại cho B số tiền đã mượn của chỗ khác nộp vào Ngân hàng.
Bị đơn ông Hồ Công N: Ông N đã được Toà án triệu tập hợp lệ theo quy định pháp luật nhưng ông N vắng mặt không rõ lý do, không có văn bản trình bày ý kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đậu Quốc B trình bày:
Ngày 29/6/2023, ông có mua nhà và đất tại thửa đất số 1989 Tờ bản số 255-B khu phố mới H, thành phố T của bà Nguyễn Thị Kim D1 và ông Hồ Công N với giá 6.000.000.000 đồng (Sáu tỷ đồng chẵn) và thực tế nộp vào Ngân hàng B2 3.885.296.671 đồng (Ba tỷ, tám trăm tám mươi lăm triệu, hai trăm chín sáu nghìn, sáu trăm bảy mươi mốt đồng) để lấy sổ từ Ngân hàng ra và thoả thuận khi nào thủ tục giấy tờ xong thì đưa phần tiền còn lại hoặc trong 24 tháng bà Nguyễn Thị Kim D1 có tiền mặt trả lại thì ông sẽ trả lại tài sản cho bà D1.
Ông B không biết vay nợ giữa bà D1 với bà T thế nào nhưng ông yêu cầu Toà án giải quyết để ông lấy lại tài sản vì ông đã trả số tiền 3.885.296.671 đồng. Do đó, yêu cầu nguyên đơn phải trả lãi trên số tiền 3.885.296.671 đồng. Ông B có yêu cầu độc lập yêu cầu Toà án giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 03/7/2023 giữa ông Hồ Công N, bà Nguyễn Thị Kim D1 và ông Đậu Quốc B và yêu cầu ông N, bà D1 có trách nhiệm hoàn tất thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đúng nội dung Hợp đồng.
Ngày 06/7/2023, Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 06/2023/QĐ-BPKCTT đối với nhà, đất tại thửa 1989, tờ bản đồ 255-D khu phố mới H, phường I, thành phố T, Phú Yên (số B N, phường I, thành phố T, Phú Yên) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 147577 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh P cấp ngày 25/12/2017 cho bà Nguyễn Thị Kim D1.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2024/DSST ngày 10/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã quyết định:
Áp dụng:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 111, khoản 11 Điều 114, Điều 126, khoản 4 Điều 133, Điều 147, 157, 158 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Các Điều 357, 463, 466, 468, 470, khoản 2 Điều 119, Điều 503, 124, 131 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh T.
Buộc bị đơn ông Hồ Công N, bà Nguyễn Thị Kim D1 phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 6.531.437.000 đồng (Sáu tỷ, năm trăm ba mươi mốt triệu, bốn trăm ba mươi bảy nghìn đồng) trong đó: số tiền nợ gốc là 5.755.000.000 đồng (Năm tỷ, bảy trăm năm mươi lăm triệu đồng) theo các giấy mượn tiền ngày 10/11/2019, 21/3/2023 và số tiền nợ lãi là 776.437.000 đồng (B1 trăm bảy mươi sáu triệu, bốn trăm ba mươi bảy nghìn đồng).
Kể từ tiếp theo của ngày xét xử vụ án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 06/2023/QĐ-BPKCTT ngày 06/7/2023 của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị đơn Hồ Công N, Nguyễn Thị Kim D1.
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 03/7/2023 giữa bên chuyển nhượng là vợ chồng ông Hồ Công N, bà Nguyễn Thị Kim D1 và bên nhận chuyển nhượng là ông Đậu Quốc B với diện tích 92,5m² tại thửa 1898, tờ bản đồ 255-D tại khu phố M, phường I, thành phố T, Phú Yên (nhà số B N, phường I, thành phố T, Phú Yên) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyên sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn lền với đất số CI 147577 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh P cấp ngày 25/12/2017, đã được công chứng tại văn phòng C chứng nhận ngày 03/7/2023, số công chứng 6290 quyển số 06/2023TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiệu.
Về hậu quả hợp đồng vô hiệu: Buộc bị đơn ông Hồ Công N, Nguyễn Thị Kim D1 trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đậu Quốc B số tiền 3.885.296.671 đồng (Ba tỷ, tám trăm tám mươi lăm triệu, hai trăm chín mươi sáu nghìn, sáu trăm bảy mươi mốt đồng). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đậu Quốc B trả lại cho bị đơn Hồ Công N, Nguyễn Thị Kim D1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn lền với đất số CI 147577 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh P cấp ngày 25/12/2017 cho bà Nguyễn Thị Kim D1.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 25/01/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Đậu Quốc B kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm phần liên quan đến yêu cầu độc lập của mình.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Nguyễn Hương Q, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh T, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim D1 cho rằng các khoản nợ bà T khởi kiện mà cấp sơ thẩm tuyên buộc vợ chồng bà trả nợ cho bà T có khoản không đúng sự thật, nhưng vì mối quan hệ làm ăn từ lâu và sự tin tưởng vào lương tâm của bà T, bà đã ký vào các giấy mượn tiền mà không đọc nội dung, tất cả các khoản vay là của cá nhân bà, ông N không quan tâm nên ông N và bà đều không kháng cáo. Trước khi bán tài sản cho B thì bà cũng có nói T mua tài sản từ Ngân hàng B2 để cấn trừ nợ, nếu không đủ thì sẽ dùng tài sản khác nhưng T không đồng ý mua nên bà đã bán cho B, khi hòa giải tại TAND thành phố Tuy Hòa, bà và B cũng có thiện chí hòa giải tạo điều kiện cho T được mua tài sản nhưng T vẫn không mua, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét bảo vệ quyền lợi cho ông B khi mua tài sản của bà từ Ngân hàng là hoàn toàn ngay tình và hợp pháp, giữa bà và B không có sự che dấu, giả tạo gì trong việc mua bán này.
Người kháng cáo ông Đậu Quốc B đề nghị cấp phúc thẩm bảo vệ quyền lợi cho ông, công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng QSĐ và tài sản gắn liền với đất giữa ông và vợ chồng ông N, bà D1, ông mua tài sản này hoàn toàn ngay tình qua sự giới thiệu của anh D2 cán bộ Ngân hàng B2 vì bà D1 không còn khả năng thanh toán nợ cho Ngân hàng, số tiền ông đã thực tế giao cho bà D1 gồm 3.885.296.671đ chuyển khoản cho bà D1 để bà D1 trả vào Ngân hàng xóa thế chấp lấy sổ đỏ ra ký hợp đồng là tiền ông rút tiết kiệm, cộng với số tiền 1.250.000.000₫ bà D1 nợ của ông theo giấy mượn tiền ngày 19/01/2023 được cấn trừ nợ. Khi hòa giải tại TAND thành phố Tuy Hòa, ông và bà D1 đồng ý thương lượng cùng bà T để bà T mua lại tài sản này nhưng bà T không mua, ông đã mua ngay tình thì phải được bảo vệ, ông Q cho rằng nội dung trình bày ở TAND thành phố Tuy Hòa thể hiện việc ông biết bà D1 nợ tiền bà T trước khi mua tài sản như nhận định của bản án sơ thẩm là không đúng sự thật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên phát biểu ý kiến: trong quá trình giải quyết vụ án, Thư ký, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định. Các đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông B kháng cáo không có tài liệu khác để chứng minh cho nội dung kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không chấp kháng cáo của ông B, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Đậu Quốc B kháng cáo và nộp tạm ứng án phí trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên là kháng cáo hợp lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Ông N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đồng thời không kháng cáo, căn cứ Điều 296 BTTDS, HĐXX xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Về nội dung vụ án: Đối với tranh chấp về hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh T với bị đơn ông Hồ Công N, bà Nguyễn Thị Kim D1, TAND thành phố Tuy Hòa đã tuyên xử buộc vợ chồng ông N, bà D1 phải có trách nhiệm trả cho bà T số tiền 6.531.437.000 đồng (gồm cả gốc và lãi) theo các Giấy mượn tiền ngày 10/11/2019 và ngày 21/3/2023. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông N và bà D1 không kháng cáo, tại phiên tòa phúc thẩm, bà D1 có mặt trình bày các khoản nợ bà T kiện có khoản không đúng sự thật nhưng bà không kháng cáo, ông N cũng không quan tâm nên không kháng cáo. Do đó, HĐXX không xem xét đối với tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà T với vợ chồng bà D1, ông N.
[3] Xét kháng cáo của ông Đậu Quốc B: Tại phiên tòa, ông B và bà D1 đều đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận kháng cáo của ông B về việc công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 03/7/2023 giữa bên chuyển nhượng là vợ chồng ông Hồ Công N, bà Nguyễn Thị Kim D1 và bên nhận chuyển nhượng là ông Đậu Quốc B với diện tích đất 92,5m2 tại thửa 1898, tờ bản đồ 255-D tại khu phố M, phường I, thành phố T, Phú Yên (nhà số B N, phường I, thành phố T, Phú Yên) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyên sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn lền với đất số CI 147577 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh P cấp ngày 25/12/2017, đã được công chứng tại văn phòng C chứng nhận ngày 03/7/2023, số công chứng 6290 quyển số 06/2023TP/CC-SCC/HĐGD và tuyên hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 06/2023/QĐ-BPKCTT ngày 06/7/2023 của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị đơn Hồ Công N, Nguyễn Thị Kim D1. Vì thời điểm ông B nhận chuyển nhượng tài sản trên của vợ chồng ông N, bà D1 thì tài sản này đang thế chấp tại Ngân hàng B2, ông B đã trả tiền bằng chuyển khoản vào tài khoản của bà D1 để bà D1 trả nợ Ngân hàng xóa thế chấp và các bên tiến hành ký kết hợp đồng là hoàn toàn ngay tình, ông B cho rằng ông không biết việc bà D1 có nợ tiền bà T và bà T đang khởi kiện, chỉ khi TAND thành phố Tuy Hòa hòa giải thì ông mới biết nên có thiện chí thương lượng để bà T được ưu tiên mua lại tài sản này nhưng bà T không mua thì nay Tòa án phải công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng và hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời để ông được sang tên tài sản.
[4] Xét thấy, bà T nộp đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với vợ chồng bà D1, ông N vào ngày 26/5/2023 đồng thời có đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa đối với các tài sản của bà D1, ông N trong đó có tài sản nhà đất tại số B N, phường I, thành phố T, được TAND thành phố Tuy Hòa thụ lý ngày 26/5/2023. Ngày 19/6/2023, TAND thành phố Tuy Hòa tiến hành hòa giải, bà D1 đã biết việc bà T khởi kiện đòi nợ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà D1 trình bày có nói với bà T là lấy tài sản nhà đất đang thế chấp trong ngân hàng để thu nợ, nếu còn thiếu thì lấy tài sản khác nhưng bà T không đồng ý nên bà bán cho ông B. Ngày 05/7/2023, bà T khởi kiện bổ sung đòi khoản nợ 1.000.000.000đ, tổng nợ gốc theo 02 đơn khởi kiện là 5.410.000.000đ. Theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 03/7/2023 hai bên ký kết giá chuyển nhượng tài sản là 6.000.000.000đ thì ngoài khoản tiền ông B đã chuyển khoản cho bà D1 vào ngày 29/6/2023 là 3.885.296.671đ để trả nợ Ngân hàng B2 xóa thế chấp thì bà D1 chấp nhận cấn trừ khoản tiền bà nợ ông B theo giấy mượn tiền ngày 19/01/2023 là 1.250.000.000đ (tại Giấy cấn trừ nợ ngày 04/7/2023) = 5.135.296.671đ. Ông B và bà D1 đều trình bày bản thân ông B không biết bà T đang kiện bà D1 đòi nợ trước khi mua tài sản, các nội dung trình bày tại TAND thành phố Tuy Hòa là để tạo điều kiện cho bà T được ưu tiên mua tài sản. Tuy nhiên, xét tại biên bản tự khai ngày 25/7/2023 (BL115) của bị đơn Nguyễn Thị Kim D1 có nội dung: “Đối với tài sản nhà và đất tại thửa 1989, tờ bản đồ 255-D khu phố mới H, phường I, thành phố T, Phú Yên thì .... tôi và chồng tôi có nhờ em Đậu Quốc B đi mượn tiền rút sổ từ Ngân hàng ra để B đứng giùm tài sản của vợ chồng tôi và cho gia đình tôi ở ...Đến thời điểm này, tôi và B vẫn muốn T thương lượng, ưu tiên để T lấy nhà và đất tại B N, phường I và trả lại cho B số tiền đã mượn của chỗ khác nộp vào Ngân hàng sẽ trả lại tài sản cho tôi, tôi sẽ trả lại nhà cho T...”. Tại bản tự khai ngày 25/7/2023 (BL114) của ông B cũng có nội dung: “Ngày 29/6/2023, tôi có đứng ra mua tài sản thửa đất số 1989 ... giá trị Hợp đồng 6.000.000.000 đồng và thực tế nộp vào Ngân hàng B2 3.885.296.671 đồng để lấy số từ Ngân hàng ra và thoả thuận khi nào thủ tục giấy tờ xong thì đưa phần tiền còn lại hoặc trong 24 tháng chị Nguyễn Thị Kim D1 có tiền mặt trả lại cho tôi tôi sẽ trả lại tài sản nhà và đất cho chị D1...”. Tại các biên bản xác minh ngày 30/6/2023 và ngày 05/7/2023 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T cung cấp xác định ngày 27/4/2022, thửa đất số 1989 được thế chấp bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Ngân hàng Đ Chi nhánh P, hồ sơ số 000376.TC007. Ngày 30/6/2023, xoá nội dung đăng ký thế chấp ngày 27/4/2022 theo hồ sơ số 000376 XC.008. Như vậy, tại thời điểm xác lập Hợp đồng chuyển nhượng ngày 03/7/2023 thì tài sản là nhà và đất tại thửa 1989 là tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà D1, ông N. Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 24 tháng 10 năm 2023 thì gia đình của ông N, bà D1 vẫn quản lý, sử dụng đối với nhà và đất tại địa chỉ này. Cấp sơ thẩm đã nhận định “việc ông B đứng tên giùm nhà đất cho bà D1. Đây là tình tiết được các bên tự thừa nhận, không phải chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự” và xác định Hợp đồng chuyển nhượng ký ngày 03/7/2023 là giả cách, che giấu hợp đồng vay tài sản giữa bà D1, ông B nên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà D1, ông B là vô hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật dân sự là có căn cứ.
[4] Mặc khác, tại các giấy mượn tiền ngày 21/3/2023 bà D1 ký có nội dung “...không thanh toán đủ số tiền đã mượn thì bà T có quyền lấy toàn bộ tài sản hiện tại mà vợ chồng tôi đang sở hữu để cấn trừ nợ...., do đó cấp sơ thẩm đã nhận định và xét về lỗi và hậu quả của các bên khi Hợp đồng vô hiệu: “Bị đơn D1 biết nguyên đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng bị đơn trả nợ nhưng đến ngày 03/7/2023 vẫn tiến hành nhờ ông B đứng tên giúp tài sản. Ông B biết giữa bà D1, bà T có quan hệ vay nợ, nhưng vẫn đồng ý đứng tên giúp tài sản của vợ chồng ông N, bà D1. Do đó, hai bên đều có lỗi trong việc làm Hợp đồng vô hiệu. Bà Nguyễn Thị Kim D1 và ông Đậu Quốc B đều thừa nhận việc ông B chuyển số tiền 3.885.296.671 đồng vào tài khoản của bà Nguyễn Thị Kim D1 và cấn trừ số nợ 1.250.000.000 đồng vào ngày 19/01/2023 giữa bà D1, ông B” là có căn cứ.
Cấp sơ thẩm buộc ông N, bà D1 phải trả cho ông B số tiền 3.885.296.671 đồng là có căn cứ. Đối với phần trình bày của ông B, bà D1 về việc cấn trừ nợ vay 1.250.000.000đ theo Giấy mượn tiền ngày 19/01/2023 giữa bà D1, ông B (giấy cấn trừ nợ ngày 04/7/2023), cấp sơ thẩm nhận định “ông Đậu Quốc B được quyền khởi kiện vụ án dân sự theo quy định pháp luật” là vẫn đảm bảo quyền lợi cho ông B đối với tranh chấp về hợp đồng vay tài sản với bà D1.
[5] Đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 06/2023/QĐ-BPKCTT ngày 06/7/2023 của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà được áp dụng đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại khoản 1 Điều 136 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 13 Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP ngày 24/9/2020 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao. Căn cứ nội dung giải đáp của TAND tối cao tại công văn số 89/CV-TA ngày 30/6/2020 “...nếu đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, hợp đồng đã được công chứng, nhưng chưa đăng ký vào sổ địa chính thì thửa đất đó vẫn thuộc quyền sử dụng của bị đơn, nên Tòa án được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự...”. Do đó, cần tiếp tục duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 06/2023/QĐ-BPKCTT ngày 06/7/2023 của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà để đảm bảo cho việc thi hành án của bị đơn.
[6] Ông Đậu Quốc B kháng cáo nhưng không có tài liệu khác để chứng minh cho nội dung kháng cáo nên cần chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Đậu Quốc B kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí DSPT theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của BLTTDS giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 111, khoản 11 Điều 114, Điều 126, khoản 4 Điều 133, Điều 147, 157, 158 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Các Điều 357, 463, 466, 468, 470, khoản 2 Điều 119, Điều 503, 124, 131 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh T.
Buộc bị đơn ông Hồ Công N, bà Nguyễn Thị Kim D1 phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 6.531.437.000 đồng (Sáu tỷ, năm trăm ba mươi mốt triệu, bốn trăm ba mươi bảy nghìn đồng) trong đó: số tiền nợ gốc là 5.755.000.000 đồng (Năm tỷ, bảy trăm năm mươi lăm triệu đồng) theo các giấy mượn tiền ngày 10/11/2019, 21/3/2023 và số tiền nợ lãi là 776.437.000 đồng (B1 trăm bảy mươi sáu triệu, bốn trăm ba mươi bảy nghìn đồng).
Kể từ tiếp theo của ngày xét xử vụ án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 06/2023/QĐ-BPKCTT ngày 06/7/2023 của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị đơn Hồ Công N, Nguyễn Thị Kim D1.
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 03/7/2023 giữa bên chuyển nhượng là vợ chồng ông Hồ Công N, bà Nguyễn Thị Kim D1 và bên nhận chuyển nhượng là ông Đậu Quốc B với diện tích 92,5m² tại thửa 1898, tờ bản đồ 255-D tại khu phố M, phường I, thành phố T, Phú Yên (nhà số B N, Phường I, thành phố T, Phú Yên) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyên sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn lền với đất số CI 147577 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh P cấp ngày 25/12/2017, đã được công chứng tại văn phòng C chứng nhận ngày 03/7/2023, số công chứng 6290 quyển số 06/2023TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiệu.
Về hậu quả hợp đồng vô hiệu: Buộc bị đơn ông Hồ Công N, bà Nguyễn Thị Kim D1 trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đậu Quốc B số tiền 3.885.296.671 đồng (Ba tỷ, tám trăm tám mươi lăm triệu, hai trăm chín mươi sáu nghìn, sáu trăm bảy mươi mốt đồng). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đậu Quốc B trả lại cho bị đơn Hồ Công N, Nguyễn Thị Kim D1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn lền với đất số CI 147577 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh P cấp ngày 25/12/2017 cho bà Nguyễn Thị Kim D1.
Chi phí tố tụng: Ông Đậu Quốc B phải chịu 1.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ông B đã nộp đủ.
Về án phí: Bị đơn Hồ Công N, Nguyễn Thị Kim D1 phải chịu 114.531.437 đồng (Một trăm mười bốn triệu, năm trăm ba mươi mốt nghìn, bốn trăm ba mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn Huỳnh Thị Thanh T và 109.705.933 đồng (Một trăm lẻ chín triệu, bảy trăm lẻ năm nghìn, chín trăm ba mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ hoàn trả cho ông Đậu Quốc B.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đậu Quốc B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí số 0009945 ngày 10/8/2023 và số 0012892 ngày 31/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Ông B đã nộp đủ.
H lại cho nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh T số tiền 56.377.500 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0008212 ngày 26/5/2023 và số tiền 29.148.700 đồng (Hai mươi chín triệu, một trăm bốn mươi tám nghìn, bảy trăm đồng) Biên lai thu tiền số 0009840 ngày 05/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Hà |
Bản án số 55/2024/DSPT ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, yêu cầu công nhận hđcnqsd đất
- Số bản án: 55/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, yêu cầu công nhận HĐCNQSD đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn đòi tiền vay, yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa bị đơn và người liên quan vô hiệu do giả tạo nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ trả nợ
