Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/DS-ST

Ngày 20 - 8 - 2024

V/v “Tranh chấp ranh giới QSDĐ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Quốc Sách.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Thanh Hải.
  2. Bà Lê Kim Tuyền.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự tham gia phiên tòa: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 tháng 7, ngày 29 tháng 7 và 20 tháng 8 năm 3024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 11/2023/TLST-DS ngày 01 tháng 02 năm 2023, về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 182/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 194/QĐST-DS và Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số: 11/TB-TA ngày 13/8/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh H, sinh năm 1974; Địa chỉ cư trú: K, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.(có mặt)
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1977; Địa chỉ cư trú: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.(có mặt)
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1966. Địa chỉ cư trú: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
    • 3.2. Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1962. Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
    • 3.3. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1964. Địa chỉ cư trú: ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
    • 3.4. Ông Nguyễn Văn M2, sinh năm 1967. (vắng mặt)
    • 3.5. Ông Nguyễn Văn E, cinh năm 1972. (vắng mặt)
    • 3.6. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1975. (vắng mặt)
    • 3.7. Chị Châu Hằng M3, sinh năm 1988. (vắng mặt)

    Cùng địa chỉ cư trú: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

    3.7. Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) – Chi nhánh Đ – Phòng G1 - Địa chỉ: 52, 54, E H, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp - Người đại diện theo ủy quyền là: Ông Lê Hữu Thành N1, chức vụ: Trưởng phòng giao dịch. (Có Văn bản thông báo từ chối tham gia tố tụng số: 188/2024/TB-CNĐT-NH ngày 31/7/2024)

  4. Người làm chứng: Ông Võ Thanh K, sinh năm: 1968 - Địa chỉ cư trú: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thanh H: Vào tháng 6 năm 2022 bà H nhận chuyển nhượng của bà Lưu Thị Huệ O và ông Ngụy Bảo N2 (chồng của bà O) phần đất diện tích 930 m², thuộc 1 phần thửa 421 và 01 phần thửa 1058, tờ bản đồ số: 12, mục đích sử dụng: đất ở nông thôn - tọa lạc tại xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, phần đất này giáp ranh với đất ông Nguyễn Thành T, lúc đo đạc làm thủ tục chuyển nhượng thì đã có trụ ranh 04 góc hết rồi và bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó bà H làm hàng rào xung quanh, thì ông T cũng đến chỉ ranh cho bà làm, nhưng không phải là ranh mà trước khi bà mua ông N2, bà O đã chỉ - ông N2, bà O nói với bà H phần móng nền kho lò sấy (hiện nay kho lò sấy không còn hoạt động, tháo dỡ chỉ móng xây ở dưới đất) nằm bên đất của ông N2, bà O; còn ông T cho rằng kho lò sấy nằm bên đất của ông T, sau đó bà H có báo cho ông N2, bà O biết thì ông N2 xuống chỉ ranh lại cho bà, còn ông T cho rằng là ranh đất không đúng, nên giữa bà H và ông T chưa thống nhất cột mốc ranh và ông T cho rằng bà H lấn ranh đất ông T, nhưng thực tế theo cột mốc ranh mà ông N2 chỉ, so với ranh ông T chỉ thì ông T lấn qua ranh đất của bà H, nên bà H gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã giải quyết nhưng không thành và đã khởi kiện ông T đến Tòa án. Nay bà H yêu cầu ông T trả lại cho H phần đất mà ông T đã lấn chiếm chiều ngang giáp lộ làng phía trước là 02m, chiều ngang sau hậu 0 mét, chiều dài một cạnh 48,7m và chiều dài một cạnh 49,5m, tổng diện tích 45,4m², thuộc 1 phần thửa 421 (đã trừ 0,3 mét thuộc 01 phần thửa 1058 đất giao thông, bà không yêu cầu giải quyết phần đất giao thông này) - tọa lạc tại xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Đồng thời nghiêm cấm ông Nguyễn Thành T và gia đình không được cản trở khi bà sử dụng phần đất trên.

- Bị đơn ông Nguyễn Thành T trình bày: Nguồn gốc đất mà ông T đang quản lý sử dụng là của ông bà để lại cho cha ông T là ông Nguyễn Văn T1 quản lý sử dụng từ năm 1967 đến năm 2003 cha ông T chết, để lại cho ông T quản lý sử dụng đến nay. Vào năm 2000 và năm 2003 có đi đăng ký để được cấp giấy nhưng đăng ký chưa được, tới nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích khoản 4.800m². Khi cha ông T chết để lại cho ông T không có giấy tờ, chỉ quản lý đất trên thực tế, vì chưa đăng ký cấp giấy chứng nhận được nên không có văn bản gì để lại. Còn phần đất giáp ranh với ông T, ông chỉ biết đầu tiên là đất của bà cố Hồ Thị D, sau đó bà C bán lại cho gia đình ông Ba B, năm 1990 ông Ba B bán lại cho ai đó làm lò sấy (không biết họ tên địa chỉ), đến 2016 lò sấy không còn hoạt động, sau đó có lần thấy ông N2 đến phần đất và kêu anh ruột ông T tên Nguyễn Văn E ký tên tứ cận thống nhất ranh đất lúc này có cấm 04 trụ đá, (lúc đó có cùng ông Q làm địa chính xã L đo đạc, có thuê ông T2 chôn 4 trụ đá như trên và ông T3 làm thuê cho Lò sấy biết về phần ranh đất này - tôi sẽ cung cấp họ tên, năm sinh, địa chỉ cho Tòa án sau), 04 trụ này vẫn còn như hiện trạng hiện nay, và khi Tòa án xuống đo đạc thì tôi vẫn chỉ 02 trụ đá mà trước đây năm 2016 mà anh ruột ông T đã chỉ giáp ranh. Nay ông T không thống nhất theo yêu cầu của bà H, vì phần đất diện tích 45,4m², chiều ngang giáp lộ làng phía trước là 02m, chiều ngang sau hậu 0 mét, chiều dài một cạnh 48,7m và chiều dài một cạnh 49,5m, tổng diện tích 45,7m², thuộc 1 phần thửa 421, vì thuộc về đất của ông T.

- Những người liên quan: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1966; Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1962; Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1964; Ông Nguyễn Văn M2, sinh năm 1967; Ông Nguyễn Văn E, sinh năm 1972; Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1975; Chị Châu Hằng M3, sinh năm 1988 – (là những người thân của bị đơn Nguyễn Thành T): Đều đã được tống đạt hợp pháp các văn bản tố tụng, nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên không có ý kiến tại Tòa án.

- Người liên quan: Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) – Chi nhánh Đ - Phòng G1 - Người đại diện theo ủy quyền là: Ông Lê Hữu Thành N1, chức vụ: Trưởng phòng giao dịch, trình bày tại Thông báo từ chối tham gia tố tụng số: 188/2024/TB-CNĐT-NH ngày 31/7/2024: Theo hợp đồng tín dụng số: [...] ký ngày 25/7/2022. Bà Nguyễn Thanh H có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành DG 782612, số vào sổ cấp giấy CS04529, do Sở Tái nguyên & Môi trường tỉnh Đồng Tháp đã cấp cho bà Nguyễn Thanh H ngày 06/7/2022 (cập nhật ngày 18/7/2022) - tọa lạc tại xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp – Giá trị tài sản thế chấp: 1.581.000.000đồng. Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) – Chi nhánh Đ – Phòng G1 - Người đại diện theo ủy quyền là: Ông Lê Hữu Thành N1 thông báo rằng không yêu cầu xử lý nợ theo Hợp đồng tín dụng nêu trên, xin từ chối tham gia tố tụng, xin xét xử vắng mặt các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và qua kết quả tranh tụng của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, xét thấy: Về nguồn gốc đất tranh chấp do bà H nhận chuyển nhượng của ông Ngụy Bảo N2 và bà Lưu Huệ O vào ngày 22/6/2022, việc chuyển nhượng có làm hợp đồng được chứng thực với diện tích 930m² thuộc thửa 421, tờ bản đồ số 12, tại xã L. Đến ngày 06/7/2022 thì bà H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 930m² thuộc thửa 421, tờ bản đồ số 12.

Xét thấy, khi bà H nhận chuyển nhượng của ông N2 và bà O thì chỉ dựa vào diện tích trên giấy chứng nhận chứ không đo đạc thực tế. Mặt khác, khi hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng thì không gặp bị đơn anh T để thống nhất ranh đất cho đến khi bà H làm hàng rào thì mới phát hiện đất bị thiếu so với diện tích được cấp trên giấy chứng nhận.

Căn cứ vào sơ đồ đo đạc thì phần đất có 04 trụ ranh từ M1M2M4M5 thuộc 01 phần thửa 421 có diện tích 857m² và phần đất hiện đang tranh chấp là 45.7m² trừ 0.3m² thuộc phần đất giao thông thì còn 45.4m². Nếu cộng lại 857 + 45.4 = 902.2m2 cũng không đủ diện tích 930m2 đã được cấp.

Trên phần đất tranh chấp thì bị đơn ông T có trồng nhiều cây như: G, X, L, T4 đã lâu năm nhưng trước khi chuyển nhượng đất cho bà H thì phía ông N2, bà O không có ý kiến hay tranh chấp mà để cho ông T quản lý, sử dụng cho đến khi chuyển nhượng cho bà H cũng không có ý kiến gì.

Bà H cho rằng việc ông T lấn ranh là căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp chứ bà H không có chứng cứ nào khác. Tuy nhiên, lúc nhận chuyển nhượng bà H và bà O, ông N2 không tiến hành đo đạc thực tế, bà H xác nhận khi đó đã có các trụ đá ranh và hiện tại các trụ ranh vẫn còn. Bị đơn anh T khẳng định từ trước tới giờ các trụ đá ranh vẫn y hiện trạng không thay đổi, phần đất đang tranh chấp thì trước giờ do bị đơn anh T quản lý sử dụng trồng cây nhưng không ai tranh chấp.

Tại biên bản hòa giải tại xã L ngày 26/10/2022 thì bị đơn anh T trình bày trụ đá ranh do chủ đất cũ là ông N2 thuê ông C1 xuống trụ có sự chứng kiến của anh Q1 địa chính xã và ông N3 là người sử dụng đất liền kề. Mặt khác, ông C1 khẳng định vị trí các trụ đá ranh vẫn còn đúng vị trí từ trước đến nay và đo xuống mỗi người 20m. Rõ ràng lúc này ông N2 đã thống nhất ranh đất với anh T bằng cách thuê ông C1 xuống trụ đá và các bên ông N2, anh T không tranh chấp và sử dụng đất ổn định.

Khẳng định, giữa các bên bà H và Lưu Huệ O đã thỏa thuận chuyển nhượng trọn thửa đất thửa 421, tờ bản đồ số 12 với diện tích 930m², lúc này ranh giới là các trụ đá ranh đã có, điều này đã được các bên bà H, anh T thừa nhận tại thời điểm được Sở T5 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H. Mặt khác, anh T và bà H đều không tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề. Khi chuyển nhượng bà H không tiến hành đo đạc lại nên yêu cầu đòi diện tích bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không có căn cứ chấp nhận.

Đối với Ngân hàng TMCP S – Phòng G1 từ chối không tham gia tố tụng và không yêu cầu xử lý nợ theo Hợp đồng tín dụng và xin vắng mặt tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm nên không đặt ra xem xét. Nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.

Từ những căn cứ nêu trên xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H về việc yêu cầu ông T trả lại diện tích đất 45.4m² thuộc thửa 421, tờ bản đồ số 12 tại xã L là không có căn cứ chấp nhận.

Căn cứ vào các Điều 166 Bộ luật dân sự, Điều 98 Luật Đất đai, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thanh H về việc yêu cầu ông Nguyễn Thành T trả lại diện tích đất 45.4m² thuộc thửa 421, tờ bản đồ số 12 tại xã L - vì không có căn cứ chấp nhận.

* Không yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ kiện tranh chấp quyền sử dụng đất (đòi mở lối đi), thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo qui định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn và đối tượng tranh chấp đều có cùng địa chỉ tại địa phận huyện H, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự theo quy định tại các Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Đối với người liên quan và người làm chứng vắng mặt, theo ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và những đương sự có mặt đều đề nghị xét xử vắng mặt họ, xét thấy là phù hợp, không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, do đó căn cứ vào Điều 227, 229 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ.

[2]. Về nội dung:

Phần ranh đất tranh chấp được thể hiện theo sơ đồ đo đạc số: 68/SĐ.ĐĐ/VP.ĐKĐĐHHN2023 ngày 16/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H thì có chiều ngang (Hướng giáp lộ làng) là 02mét, chiều dài (một cạnh - theo hướng xác định của bà H) là 49,4 mét; một cạnh - theo hướng xác định của ông T là 48,7mét), chiều ngang sau hậu là 0 mét => Diện tích là: 45,7m², thuộc một phần các thửa 421, 1058, tờ bản đồ số: 12, mục đích sử dụng: đất ở nông thôn (trong đó 45,7m² là thuộc một phần thửa 421 - đất ở nông thôn; 0,3m² là thuộc một phần thửa 1058 - đất giao thông, phần này bà H thống nhất không yêu cầu giải quyết) – đất có địa chỉ ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

Bà H cho rằng phần đường ranh bà đã xác định từ điểm M2 đến điểm M3 chiều dài 49,5mét theo sơ đồ thể hiện là đúng.

Ông T cho rằng phần đường ranh ông đã xác định từ điểm M2 đến điểm M4 chiều dài 48,7mét theo sơ đồ thể hiện là đúng.

Hội đồng xét xử, nhận định: Phần đất ông T đang quản lý sử dụng theo ông T khai là của ông bà, cha, mẹ giao lại và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, do đó chưa có thể hiện số đo, diện tích cụ thể chính xác; Còn phần đất bà H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng là nhận chuyển nhượng từ chỗ bà Lưu Thị Huệ O, ông Ngụy Bảo N2 (đã có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng), nên được thể hiện số đo diện tích tại thực địa và trên sơ đồ quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cụ thể qua xem xét thẩm định tại chổ tại sơ đồ đo đạc số: 68/SĐ.ĐĐ/VP.ĐKĐĐHHN2023 ngày 16/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H thể hiện phần đất tranh chấp trên cơ sở xác định ranh của bà H là thuộc một phần các thửa 421, tờ bản đồ số: 12, mục dích sử dụng: đất ở nông thôn, diện tích 45,4m² đã được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng cho bà H (trên cơ sở nhận chuyển nhượng của bà Lưu Thị Huệ O, ông Ngụy Bảo N2) - Do đó việc xác định mốc ranh của ông T là không chính xác – vì ông T chỉ đưa ra người làm chứng là ông C1, và sơ đồ đo đạc năm 2017, nhưng ông T không cung cấp được ông C1 để Tòa án làm việc (Tòa án đã có triệu tập); còn sơ đồ đo đạc năm 2017 thì ông T khai nhận đây là sơ đồ đo đạc tranh chấp với đất người khác, ở hướng khác và khi đo phía ranh giáp với đất ông N2, bà O là không có mặt ông N2, bà O để xác định mốc ranh; còn việc ông T trồng cây trên đất này là vì chủ đất ông N2, bà O thường không có mặt tại đất, nên tự ý ông T trồng và số cây ấy không có giá trị lớn, nên không thể nói có trồng cây là đất của mình, đồng đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, nên chưa biết điểm mốc ranh tứ cận và diện tích bao nhiêu - ngoài ra ông T không đưa ra được chứng cứ nào khác để chứng minh điểm mốc ranh ông T đã chỉ - vì thế thấy rằng việc xác định mốc ranh của bà H là có cơ sở chấp nhận - mặc dù khi cấp giấy chứng nhận và làm thủ tục chuyển nhượng không đo đạc, nhưng qua xem xét thẩm định tại chỗ thì Cơ quan có thẩm quyền xác định trên cơ sở sơ đồ quản lý của Nhà nước về đất đai thì phần đất ranh tranh chấp thuộc một phần thửa 421, tờ bản đồ số: 12, mục đích sử dụng: đất ở nông thôn đã cấp giấy chứng nhận cho bà H (đối với bà H ý kiến tại phiên tòa thì nếu cộng thêm diện tích này là chưa đủ diện tích đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho bà H là 930m² – diện tích đo thực tế 902,4m², nhưng bà H thống nhất diện tích này). Từ nhận định đó khẳng định rằng phần đất tranh chấp diện tích: 45,4m² (đã trừ 0,3m² phần đất giao thông) là của bà H và xác định ranh đất giữa bà H với đất gia đình ông T là từ điểm M2 (giáp đất Võ Thị D1 – sau hậu) đến điểm M3 (giáp với đất giao thông - đất lộ), chiều dài 49,5mét (theo sơ đồ đo đạc số: 68/SĐ.ĐĐ/VP.ĐKĐĐHHN-2023 ngày 16/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H), đồng thời nghiêm cấm ông T và những người liên quan (người thân trong gia đình ông T) thực hiện hành vi lấn, chiếm, cản trở, gây khó khăn đối với bà H trong việc thực hiện quyền sử dụng phần đất diện tích 45,4m² thuộc một phần thửa 421, tờ bản đồ số: 12, mục đích sử dụng: đất ở nông thôn – địa chỉ tại ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp nêu trên.

[3]. Đối với phần diện tích 0,3m² thuộc thửa 1058 theo xác định của Cơ quan có thẩm quyền thì đây là đất giao thông (giáp lộ) thuộc quản lý của Nhà nước và tại vụ án các đương sự không tranh chấp, nên không xem xét giải quyết.

[4]. Về Ngân hàng S1 – Phòng G1, mặc dù không có đương sự nào yêu cầu đưa vào tham gia vụ án, nhưng qua thẩm tra tại phiên tòa được biết bà Nguyễn Thanh H có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (có phần đất tranh chấp) tại Ngân hàng S1 – Phòng G1 để vay vốn, nên Tòa án đưa Ngân hàng S1 – Phòng G1 vào tham gia vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, để Ngân hàng S1 – Phòng G1 có ý kiến và tại Thông báo từ chối tham gia tố tụng số: 188/2024/TB-CNĐT-NH ngày 31/7/2024 thì Ngân hàng S1 – Phòng G1 (đại diện là ông Lê Hữu Thành N1 – ký) cho rằng không yêu cầu xử lý nợ theo Hợp đồng tín dụng số: [...] ký ngày 25/7/2022 với bà Nguyễn Thanh H, xin từ chối tham gia tố tụng, xin xét xử vắng mặt các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của Ngân hàng S1 – Phòng G1, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết trong vụ án này.

[5]. Từ nhận định trên thấy rằng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Huyện tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là không có cơ sở.

[6]. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp: Căn cứ vào các Điều 157, 158 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì trong vụ án nguyên đơn bà H đã nộp trước số tiền tạm ứng là: 2.294.000 đồng tại Hóa đơn kí hiệu: 2C23THH, số: 00000392 ngày 14/6/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H và danh sách chi tiền định giá tài sản tranh chấp là 400.000 đồng và trong vụ án yêu cầu của nguyên đơn bà H được chấp nhận toàn bộ, nên bị đơn ông T phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp là: 2.694.000 đồng, do đó bị đơn ông T phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho nguyên đơn bà H số tiền này là: 2.694.000đồng. Các đương sự khác không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp.

[7]. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Trong vụ án yêu cầu của nguyên đơn bà H được chấp nhận toàn bộ, nên bị đơn ông T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 5% trên giá trị tài sản tranh chấp là: 45,4m² x 350.000đồng/m² (theo kết quả định giá) x 5% = 794.500đồng. Những đương sự khác còn lại trong vụ án không phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 4, 5, 26, 35, 39, 91,147, 157, 158, 165, 166, 186, 227, 229 và Chương X của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 12, 26, 203 Luật đất đai; Điều 175, 176 của Bộ luật dân Sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thanh H, về việc yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Thành T trả phần đất ranh diện tích: 45,4m² thuộc một phần các thửa: 421, tờ bản đồ số: 12, mục đích sử dung: đất ở nông thôn, địa chỉ ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; xác định ranh giới giữa các thửa đất số: 421 của bà Nguyễn Thanh H với phần đất của gia đình ông Nguyễn Thành T; nghiêm cấm ông Nguyễn Thành T và gia đình không được cản trở khi bà Nguyễn Thanh H sử dụng phần đất trên.
  2. Xác định mốc ranh giới đất giữa các thửa đất số: 421, tờ bản đồ số: 12, mục đích sử dụng: đất ở nông thôn của bà Nguyễn Thanh H (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/7/2022) với phần đất của gia đình ông Nguyễn Thành T (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) – cùng địa chỉ ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp là từ điểm M3 (giáp đất giao thông - lộ làng hướng N) đến điểm M2 (phía sau hậu hướng Bắc – đất Võ Thị D1), dài 49,3mét. Theo đó buộc bị đơn ông Nguyễn Thành T trả lại cho nguyên đơn bà Nguyễn Thanh H phần đất tranh chấp (ranh) diện tích: 45,4m² thuộc một phần thửa: 421, tờ bản đồ số: 12, mục đích sử dung: đất ở nông thôn (có chiều ngang theo hướng giáp lộ làng là 02mét, chiều dài (một cạnh - theo hướng xác định của bà H) là 49,3 mét; một cạnh - theo hướng xác định của ông T là 48,6mét), chiều ngang sau hậu là 0 mét) - địa chỉ ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp và di dời bằng mọi hình thức các tài sản, cây trồng, vật kiến trúc (nếu có) ra khỏi phần đất nêu trên - nếu không tự nguyện sẽ bị cưỡng chế theo quy định.
  3. Nghiêm cấm bị đơn ông Nguyễn Thành T và những người liên quan (người thân trong gia đình ông T) thực hiện hành vi lấn, chiếm, cản trở, gây khó khăn đối với bà Nguyễn Thanh H trong việc thực hiện quyền sử dụng phần đất diện tích 45,4m² thuộc một phần các thửa đất số: 421, tờ bản đồ số: 12, mục đích sử dụng: đất ở nông thôn – địa chỉ tại ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

    (Kèm theo sơ đồ đo đạc số: 68/SĐ.ĐĐ/VP.ĐKĐĐHHN2023 ngày 16/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H)

  4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp:

    Bị đơn ông Nguyễn Thành T có trách nhiệm hoàn trả lại toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp cho nguyên đơn bà Nguyễn Thanh H là: 2.694.000 đồng.

    Các đương sự khác trong vụ án không phải chịu tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp.

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bị đơn ông Nguyễn Thành T phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 794.500đồng.

    Nguyên đơn bà Nguyễn Thanh H được hoàn trả lại tiền tạm ứng án dân sự sơ thẩm là: 300.000đồng, theo biên lai thu ký hiệu: 14BE-21, số: 0004241 ngày 01/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

    Các đương sự khác trong vụ án không phải chịu án phí sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (20/8/2024). Đối với những người liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Hồng Ngự;
  • - Chi cục THADS huyện Hồng Ngự;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Thanh Hải

Lê Kim Tuyền

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Quốc Sách

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/DS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 55/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thanh H, về việc yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Thành T giao trả phần đất ranh diện tích: 45,4m2 thuộc một phần các thửa: 421, tờ bản đồ số: 12, mục đích sử dung: đất ở nông thôn, địa chỉ ấp L, xã A, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp; xác định ranh giới giữa các thửa đất số: 421 của bà Nguyễn Thanh H với phần đất của gia đình ông Nguyễn Thành T; nghiêm cấm ông Nguyễn Thành T và gia đình không được cản trở khi bà Nguyễn Thanh H sử dụng phần đất trên.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger