Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 55/2023/HS-ST

Ngày 06/11/2023.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • + Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Kim Tuấn.
  • + Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Thành Nhật.
    2. Ông Hoàng Ngọc Thịnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Kim Thị Thanh Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Năm, Kiểm sát viên.

Hôm nay ngày 06 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 51/2023/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2023/QĐXXST- HS ngày 24/10/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn G (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam.

Sinh ngày 27/7/1958.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Không;

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm T, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên

Họ và tên bố: Nguyễn Văn T, đã chết.

Họ và tên mẹ: Lương Thị T1, đã chết.

Gia đình có 10 anh em bị cáo là con thứ hai.

Bị cáo chung sống như vợ chồng với bà Nguyễn Thị Q (không đăng ký kết hôn);

Con: 01 con, sinh năm 1995.

- Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2023 hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1959.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam. (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người làm chứng:

  1. Ông Tống Đình P, sinh năm 1985;
  2. Địa chỉ: Xóm T, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

    (Có mặt)

  3. Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1957;
  4. Địa chỉ: Xóm T, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

    (Có mặt)

* Người bào chữa: Bà Lê Thúy H1 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh T. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/6/2023, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân có đối tượng lạ mặt đến nhà ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1958, nơi đăng ký HKTT: Xóm T, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Công an xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên đến kiểm tra phát hiện Triệu Phúc D, sinh năm 1993, trú tại xóm N, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, đang ở nhà ông G để hỏi mua Nỏ, đồng thời G thừa nhận đang cất giấu trong nhà 01 khẩu súng tự chế và một số Nỏ gỗ. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc và tạm giữ các đồ vật gồm: 01 súng tự chế bằng kim loại màu đen, tổng chiều dài 28cm, niêm phong ký hiệu H1; 03 vỏ đạn, 02 đầu đạn, niêm phong ký hiệu A1; 06 Nỏ gỗ.

Cùng ngày khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn G tại xóm T, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên phát hiện thu giữ gồm:

  • + 01 khẩu súng tự chế dài 45cm tại khu vực gầm giường ngủ của Nguyễn Văn G, niêm phong ký hiệu S1.
  • + 02 khẩu súng tự chế, 01 khẩu màu đen có chiều dài 43cm và 01 khẩu màu xám, trắng chiều dài 34cm, cất trong túi tải màu hồng, đặt trong ngăn dưới tủ kệ đặt tivi, niêm phong ký hiệu S2.
  • + 06 khẩu súng tự chế, có báng gỗ màu vàng được cất trong túi tải màu hồng, 06 khẩu súng có kích thước tương đương nhau, có chiều dài 46cm được cất tại ngăn dưới tủ kệ tivi, niêm phong ký hiệu S3.
  • + T2 tại vị trí tủ kệ tivi 01 túi giả da, bên trong có 06 cát tút kim loại màu đồng có kích thước tương đương nhau, chiều dài 5,2cm, đường kính thân 1,5cm, đường kính mặt đáy 1,7cm, mặt đáy in chìm số 28; 04 viên đạn có kích thước giống nhau, dài 5,5cm, đường kính đáy 1,1cm, niêm phong ký hiệu D1.
  • + T2 tại gần cửa xếp phòng khách 01 ống kim loại, hình trụ tròn, mặt ngoài han rỉ, bên trong đã được đục rỗng, dài 134cm, đường kính 1,5cm.
  • + T2 tại khu vực nhà kho gần bếp 02 đoạn khúc sừng, có chiều dài 13 cm, phần rộng nhất là 06 cm, phần hẹp nhất là 01cm; 01 chi tiết máy kim loại có kích thước 56x03x28cm; 01 chi tiết máy màu cam, kích thước 2 x22cm hình trụ; 01 cưa kim loại kích thước 40x09cm; 01 hộp kim loại có kích thước 46x11x10 cm, bên trong có 09 thanh kim loại, có nhiều kích thước khác nhau; 01 máy khoan đục có kích thước 94x56cm; 01 máy khoan điện điện dài 23cm, cao 17cm; 01 ống kim loại hình trụ tròn; 07 thanh đũa sắt, mỗi thanh dài 28cm, rộng 02cm; 01 hộp que hàn; 01 máy hàn.

Tiến hành mở niêm đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, thu giữ của Nguyễn Văn G:

  • Bì niêm phong ký hiệu A1: 01 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng đồng, có chiều dài 04cm; đường kính 02 đầu lần lượt 1,1cm và 1,5cm, bên trong có chứa chất màu xám. 01 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng đồng, có chiều dài 3,2cm; đường kính 02 đầu lần lượt 1,1cm và 1,4cm, bên trong có chứa chất màu xám. 01 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng đồng, có chiều dài 2,5cm; đường kính 02 đầu lần lượt 0,8cm. 02 đầu đạn màu vàng đồng có kích thước tương đương, đều dài 1,3cm, đường kính 0,8cm. Niêm phong 02 đầu đạt, 02 vỏ đạn bêb trong có chất màu xam bì ký hiệu D1, vỏ đạn bêb trong không chứa chất gì ký hiệu D10.
  • Bì niêm phong ký hiệu D1: Trong có 06 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng đồng, có kích thước tương đương nhau, đều có chiều dài 5,2cm, đường kính 2 đầu lần lượt 1,5cm và 1,7cm. Bên trong chứa chât smàu xám. Mặt đáy vỏ đạn có in chìm số “28”. Niêm phong ký hiệu D2; 04 vỏ đạn màu vàng đồng, có chiều dài 5,2cm, đường kính mặt đáy 1,1cm. Niêm phong ký hiệu D3;
  • Bì niêm phong ký hiệu H1: Trong có 01 khẩu súng tự chế màu đen, có tổng chiều dài 28 cm, chiều dài nòng súng 20,5 cm, đường kính nòng 1,3cm, súng được cuốn mảnh nilon màu trắng, niêm phong ký hiệu D4 gửi giám định.
  • Bì niêm phong ký hiệu S1: 01 khẩu súng tự chế có báng súng màu vàng nâu, tổng chiều dài 45cm, đường kính nòng 1,3cm. Niêm phong ký hiệu D7 gửi giám định.
  • Bì niêm phong ký hiệu S2: Trong có 02 khẩu súng tự chế, 01 khẩu màu đen có chiều dài 43cm, đường kính nòng 1,5cm, 01 khẩu màu xám có chiều dài 34cm, đường kính nòng 1,3cm. Niêm phong ký hiệu D6 gửi giám định.
  • Bì niêm phong ký hiệu S3: Trong có 06 khẩu súng tự chế có báng súng màu vàng, nòng súng màu xám bằng kim loại, các khẩu súng có kích thước tương đương nhau, có chiều dài 46cm, đường kính nòng 1,4cm. Niêm phong ký hiệu D5.

Tại Bản kết luận giám định số 829/KL-KTHS ngày 23/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật trong niêm phong ký hiệu D4 gửi giám định là súng tự chế bắn đạn ghém cỡ 32, thuộc vũ khí quân dụng, hiện súng còn sử dụng để bắn được.

Tại Kết luận giám định số 4935/KL-KTHS ngày 27/7/2023 của V Bộ C kết luận:

  • - 09 khẩu súng trong mẫu niêm phong ký hiệu D5, D6, D7 gửi giám định trong đó:
    • + 02 khẩu súng (trong đó 01 khẩu súng dài 42cm và 01 khẩu súng dài 35cm) trong mẫu niêm phong ký hiệu D6 là súng tự chế bắn đạn ghém cỡ 28 và súng tự chế bắn đạn cỡ 7,62x39mm, thuộc vũ khí quân dụng;
    • + 07 khẩu súng trong mẫu niêm phong ký hiệu D5, D7 là súng kíp, thuộc súng săn, không phải vũ khí quân dụng.
  • Hiện 09 khẩu súng trên còn sử dụng để bắn được, khi bắn đạn vào cơ thể người gây chết hoặc bị thương.
  • - 06 viên đạn gửi giám định trong đó:
    • + 04 viên đạn trong mẫu niêm phong D3 là đạn cỡ 7,62x39mm, thuộc vũ khí quân dụng, sử dụng bắn được cho khẩu súng dài 35cm gửi giám định;
    • + 02 viên đạn trong mẫu niêm phong D2, là đạn ghém cỡ 28, thuộc đạn súng săn, không phải vũ khí quân dụng, sử dụng bắn được cho khẩu súng dài 42cm gửi giám định.
  • - Các vỏ đạn, đầu đạn gửi giám định trong đó:
    • + Vỏ đạn trong mẫu niêm phong D10 và 02 đầu đạn trong mẫu niêm phong D1 là vỏ đạn, đầu đạn của loại đạn quân dụng cỡ 7,62x25mm;
    • + Vỏ đạn dài 3,25cm trong mẫu niêm phong D1 gửi giám định là vỏ của loại đạn quân dụng cỡ 7,62x33mm;
    • + Vỏ đạn dài 4cm trong mẫu niêm phong D1 là vỏ của loại đạn ghém cỡ 32;
    • + 04 vỏ đạn trong mẫu niêm phong D2 là vỏ của loại đạn ghém cỡ 28.
  • - Các vỏ đạn, đầu đạn gửi giám định không bắn ra từ 09 khẩu súng gửi giám định.
  • - Các vỏ đạn và đầu đạn gửi giám định không bắn ra từ các khẩu súng đã bắn ra các vỏ đạn, đầu đạn thu của các vụ án khác hiện lưu trong Tàng thư dấu vết súng đạn của V, Bộ C.
  • - 09 khẩu súng gửi giám định không bắn ra các vỏ đạn, đầu đạn của những vụ án trước hiện lưu trong Tàng thư dấu vết súng đạn của V, Bộ C.

Quá trình điều tra đã xác định được như sau: Khi G còn nhỏ gần khu vực nhà thuộc xóm T, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên có nhiều bộ đội đóng quân nên được tiếp xúc và bắn thử súng. Từ đó G đã biết đến cấu tạo và cơ chế hoạt động của súng. Do bản thân bị tàn tật ở chân trái từ bé (chân trái bị teo), không làm việc được như người bình thường nên muốn kiếm được tiền G đã nhờ mua các dụng cụ làm mộc, rèn sắt để về làm tại nhà nhằm kiếm thêm thu nhập. Năm 2010, G nảy sinh ý định chế tạo súng để bán cho người khác lấy tiền trang trải cuộc sống, sinh hoạt gia đình. G đã tận dụng các máy móc, thiết bị làm mộc, rèn sắt có sẵn tại nhà và mua thêm các dụng cụ để chế tạo súng gồm: Búa, đe sắt, máy khoan, máy cắt, máy mài, máy hàn, cưa, giũa và một số dụng cụ khác ở chợ T3 thuộc xã T, huyện V (G không nhớ mua ở cửa hàng nào) và mua các phôi sắt của những người bán sắt vụn (G không nhớ mua của ai), vừa rèn sắt thuê các công cụ sản xuất cho người dân xung quanh vừa nhận sửa súng tự chế như súng kíp khi người dân mang đến nhờ sửa. Bản thân cũng mua sắt về để tự học chế tạo ra các khẩu súng mới bán lấy tiền. G đã chế tạo toàn bộ các bộ phận mới của một khẩu súng, thử lắp ghép nhiều lần. Qua nhiều lần thử nghiệm, lắp được thành hình khẩu súng và bắn thử thì thấy bắn được. Do đó dần dần cải tiến mẫu, hình dạng các loại súng, nòng súng khác nhau để bắn các loại đạn khác nhau. Từ năm 2010 đến năm 2015 G đã chế tạo và bán 03 khẩu súng dạng súng kíp cho Hoàng Văn H, sinh năm 1959, là thương binh đang điều trị tại Trung tâm điều dưỡng thương binh D, Hà Nam với giá khoảng 400.000 đồng/khẩu. Từ năm 2015 đến năm 2019, G tiếp tục chế tạo được 10 khẩu súng, trong đó có 03 khẩu súng thuộc vũ khí quân dụng, 07 khẩu súng kíp thuộc loại súng săn. Đối với 03 khẩu súng thuộc vũ khí quân dụng được chế tạo như sau: G mua các ống kim loại hình trụ tròn, rỗng lòng tại chợ T3 thuộc xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên (G không nhớ mua của ai), sau đó dùng máy cắt để cắt thành các đoạn ngắn làm nòng súng (dài ngắn tùy loại súng). Sau khi cắt ngắn dùng máy mài để mài nhẵn, hàn, gắn thêm phần đầu ruồi để ngắm trên đầu nòng súng. Sau đó dùng các miếng sắt đã mua dùng búa, đe để rèn; dùng máy cắt, máy mài thành hình thân súng, báng súng. Đối với các bộ phận búa đập, cò súng, lẫy súng, kim hỏa thì dùng máy cắt, máy mài, giũa để tạo thành, lò xo thì mua của các cửa hàng sửa xe máy tại xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Phần ốp báng súng thì G cắt, mài nhẵn từ sừng trâu mua ở chợ. Sau khi chế tạo xong các bộ phận trên thì dùng máy hàn, ốc vít để lắp ráp thành một khẩu súng hoàn chỉnh. Đối với 07 khẩu súng kíp (thuộc súng săn) thì G cũng sử dụng cách thức như trên để chế tạo tại nhà nhưng cách thức chế tạo đơn giản hơn 03 khẩu súng thuộc vũ khí quân dụng, phần báng của súng được làm bằng gỗ.Sau khi chế tạo xong toàn bộ 10 khẩu súng trên, G đều cất, giấu tại nhà ở thuộc xóm T, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên với mục đích nếu có ai hỏi mua sẽ bán lấy tiền. Đối với 04 viên đạn thuộc vũ khí quân dụng là do đàn ông không rõ thông tin, địa chỉ để lại cho G vào khoảng năm 2016 sau khi người đàn ông này thuê G làm ra khẩu súng bắn được các loại đạn trên, tuy nhiên thời điểm này G chưa chế tạo súng thành công nên người đàn ông trên không đến lấy mà để lại luôn cho G. Đối với 03 vỏ đạn, 02 đầu đạn còn lại là G nhặt được ở gần nhà cách đây khoảng 40 năm khi bộ đội còn đóng quân ở gần nhà. Đối với 06 Nỏ gỗ thì G chế tạo tại nhà cách đây khoảng 10 năm. G cất, giấu toàn bộ số súng, đạn, vỏ đạn, đầu đạn, nỏ nêu trên trong ngăn tủ bàn uống nước, tủ kệ tivi và gầm giường ngủ tại nhà cho đến ngày 20/6/2023 thì bị Cơ quan Công an phát hiện, tạm giữ 10 khẩu súng, 04 viên đạn quân dụng, 02 viên đạn ghém, 07 vỏ đạn, 02 đầu đạn, 06 Nỏ gỗ cùng các máy móc, công cụ để G chế tạo súng.

Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn G phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản sự việc, biên bản khám xét, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và các chứng cứ khác đã thu thập được.

Cáo trạng số 71/CT- VKS- P1 ngày 30/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn G về tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo điểm g khoản 2 Điều 304 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.

Kết thúc thẩm vấn Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Văn G về tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo điểm g khoản 2 Điều 304 Bộ luật Hình sự.

Sau khi đánh giá chứng cứ đã đề nghị:

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 304; điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G từ 05 đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam 20/6/2023.

* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

**Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 phong bì niêm phong ký hiệu G4, bên trong có 04 vỏ đạn có cùng chiều dài 5,2cm, đường kính 1,5cm, đáy có số “28”;
  • - 01 phong bì niêm phong ký hiệu G5, bên trong có: 01 vỏ đạn dài 2,5cm; 01 vỏ đạn có chiều dài 3,25cm; 01 vỏ đạn có chiều dài 4cm; 02 đầu đạn dài lần lượt 1,3cm và 1,4cm, cùng có đường kính 7,62mm;
  • - 01 hộp giấy niêm phong ký hiệu B;
  • - 01 ống kim loại hình trụ tròn mặt ngoài đã han rỉ, bên trong được tiện nòng, chiều dài 1,34m, đường kính 1,5cm;
  • - 02 đoạn sừng trâu dài 13cm, phần rộng nhất 06cm, hẹp nhất 01cm;
  • - 01 chi tiết máy kim loại kích thước 56x32x28(cm);
  • - 01 chi tiết máy màu cam hình trụ kích thước 23x22(cm);
  • - 01 cưa kim loại kích thước 40x09(cm);
  • - 01 hộp kim loại kích thước 46x11x10(cm) bên trong có 09 thanh kim loại thứ tự: 01 ống hình trụ tròn rỗng bên trong có chiều dài 20cm, đường kính nhỏ nhất 1,5cm, lớn nhất 02cm; 01 ống kim loại hình trụ tròn rỗng, dài 20,5cm, đường kính nhỏ nhất 1,3cm, lớn nhất 02cm; 01 ống kim loại hình trụ tròn, dài 24cm, đường kính nhỏ nhất 1,3cm, lớn nhất 02cm; 01 ống kim loại hình trụ tròn, dài 29,5cm, đường kính nhỏ nhất 2cm, lớn nhất 2,3cm; 01 ống kim loại hình trụ tròn rỗng, dài 33cm, đường kính nhỏ nhất 1,3cm, lớn nhất 02cm; 01 ống kim loại hình trụ tròn, dài 38,5cm, đường kính nhỏ nhất 1,5cm, lớn nhất 02cm; 01 mũi khoan kim loại dài 15cm, đường kính 1,1cm; 01 mũi khoan kim loại dài 38cm, đường kính 0,5cm; 01 thanh kim loại dẹt mỏng, dài 31,5cm, rộng 02cm;
  • - 01 máy khoan, đục có kích thước 94x56cm;
  • - 01 máy khoan điện dài 23cm, cao 17cm;
  • - 01 ống kim loại hình trụ tròn dài 1,18m;
  • - 07 thanh Giũa sắt, mỗi thanh dài 28cm, rộng 02cm;
  • - 01 hộp que hàn;
  • - 01 máy hàn điện kèm dây hàn;
  • - 01 khẩu súng tự chế bắn đạn ghém cỡ 28, có chiều dài 42cm thuộc vũ khí quân dụng, được niêm phong theo quy định;
  • - 01 khẩu súng tự chế bắn đạn cỡ 7,62x39mm, có chiều dài 35cm thuộc vũ khí quân dụng, được niêm phong theo quy định;
  • - 01 khẩu súng tự chế bắn đạn ghém cỡ 32, có chiều dài 28cm thuộc vũ khí quân dụng, được niêm phong theo quy định;
  • - 04 viên đạn cỡ 7,62x39mm, thuộc vũ khí quân dụng, được niêm phong theo quy định, ký hiện G2.

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Trong phần tranh luận người bào chữa có ý kiến tranh luận, bào chữa: Nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người tàn tật nặng không thể đi lại được, tuổi đã cao, sức khỏe yếu không tự phục vụ được bản thân, hưởng trợ cấp người tàn tật hàng tháng, bị cáo sinh ra không được đi học, sống khép kín không giao lưu với ai nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến, bị cáo là thành viên trong hộ gia đình là hộ nghèo, có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, miễn án phí và hình phạt bổ sung, bên cạnh đó sau khi phạm tội bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình, đã tác động cho gia đình nộp phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép vũ khí thô sơ và súng săn, việc làm thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo. Đồng thời nguyên tắc xử lý hình sự cùng với việc răn đe trừng trị người phạm tội cũng cần tạo điều kiện để họ làm lại cuộc đời, có cơ hội trở thành công dân có ích cho xã hội. Từ những nhận định này, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 304; điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo đã nghe rõ bản luận tội và ý kiến bào chữa, bị cáo đồng ý với nội dung bào chữa không bổ sung gì.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp với quan điểm người bào chữa, giữ nguyên đề nghị mức hình phạt từ 05 đến 06 năm tù, Kiểm sát viên cho rằng mức hình phạt này là nhẹ nhất của khung hình phạt và phù hợp, bởi các căn cứ sau: Thứ nhất, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp; Thứ hai bị cáo thực hiện hành vi tính chất rất nghiêm trọng, thực hiện đồng thời 02 hành vi chế tạo và tàng trữ trái phép vụ khí quân dụng, hành vi được thực hiện trong thời gian dài; Thứ ba hành vi của bị cáo ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và trị an của địa phương.

Sau khi đối đáp, người bào chữa, bị cáo, Kiểm sát viên giữ nguyên ý kiến quan điểm của mình và không tranh luận, bào chữa bổ sung gì.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng, nhận thức hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật, đề nghị cho hưởng mức án thấp nhất sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định tội phạm:

Trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2019 tại chỗ ở của mình thuộc Xóm Thâm, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn G đã sử dụng các thiết bị máy móc cơ khí chế tạo được 3 khẩu súng thuộc vũ khí quân dụng có kích thước khác nhau: 01 khẩu súng có tổng chiều dài 28cm, chiều dài nòng súng 20,5cm, đường kính nòng 1,3cm; 01 khẩu súng có chiều dài 35cm bắn đạn cỡ 7,62x39mm; 01 khẩu súng tự chế có chiều dài 28cm, bắn đạn ghém cỡ 32. Sau khi chế tạo xong G cất giấu tại nhà ở của mình. Đồng thời G còn cất giấu 04 viên đạn thuộc vũ khí quân dụng do một người đàn ông không rõ thông tin, địa chỉ mang đến để tại nhà G. Đến ngày 20/06/2023 G bị cơ quan Công an phát hiện đang tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn G đã phạm vào tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo điểm g khoản 2 Điều 304 Bộ luật hình sự.

Điều luật quy định:

“Điều 304. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự

1. Người nào chế tạo, tàng trữ... trái phép ...vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

...

g) Vật phạm pháp có số lượng lớn hoặc giá trị lớn”

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn G theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án thấy: Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo xâm phạm an toàn công cộng. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mà bị cáo đã gây ra.

Xét nhân thân bị cáo thấy:

Bị cáo từ nhỏ được gia đình nuôi dưỡng, không được học tập, sau đó chung sống như vợ chồng với bà Nguyễn Thị Q và có 01 con. Ngày 20/6/2023 bị phát hiện có hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn G thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người khuyết tật nặng có bố đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào tính chất của vụ án cũng như các yếu tố về nhân thân cùng tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và 01 tỉnh tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, tội phạm bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, xâm phạm vào an toàn xã hội, hành vi của bị cáo có thể là tiền đề cho những hành vi khác gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, cho con người, cho môi trường ... Đồng thời, hành vi của bị cáo gây ra tại thời điểm ở địa phương đang tăng cường hơn nữa thực hiện Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, lực lượng Công an đang tuyên truyền vận động người dân giao nộp súng tự chế, các vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ còn lưu giữ. Bởi vậy, Hội đồng xét xử xét phải lên mức án cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo thành công dân tốt, đồng thời phòng ngừa xảy ra đối với những trường hợp tương tự.

* Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là thành viên trong hộ gia đình thuộc hộ nghèo, bị cáo là khuyết tật nặng, không có thu nhập ổn định, hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng, nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

*Xét một số vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy. Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 phong bì niêm phong ký hiệu G4, bên trong có 04 vỏ đạn có cùng chiều dài 5,2cm, đường kính 1,5cm, đáy có số “28”;
  • - 01 phong bì niêm phong ký hiệu G5, bên trong có: 01 vỏ đạn dài 2,5cm; 01 vỏ đạn có chiều dài 3,25cm; 01 vỏ đạn có chiều dài 4cm; 02 đầu đạn dài lần lượt 1,3cm và 1,4cm, cùng có đường kính 7,62mm;
  • - 01 hộp giấy niêm phong ký hiệu B;
  • - 01 ống kim loại hình trụ tròn mặt ngoài đã han rỉ, bên trong được tiện nòng, chiều dài 1,34m, đường kính 1,5cm;
  • - 02 đoạn sừng trâu dài 13cm, phần rộng nhất 06cm, hẹp nhất 01cm;
  • - 01 chi tiết máy kim loại kích thước 56x32x28(cm);
  • - 01 chi tiết máy màu cam hình trụ kích thước 23x22(cm);
  • - 01 cưa kim loại kích thước 40x09(cm);
  • - 01 hộp kim loại kích thước 46x11x10 (cm) bên trong có 09 thanh kim loại thứ tự: 01 ống hình trụ tròn rỗng bên trong có chiều dài 20cm, đường kính nhỏ nhất 1,5cm, lớn nhất 02cm; 01 ống kim loại hình trụ tròn rỗng, dài 20,5cm, đường kính nhỏ nhất 1,3cm, lớn nhất 02cm; 01 ống kim loại hình trụ tròn, dài 24cm, đường kính nhỏ nhất 1,3cm, lớn nhất 02cm; 01 ống kim loại hình trụ tròn, dài 29,5cm, đường kính nhỏ nhất 2cm, lớn nhất 2,3cm; 01 ống kim loại hình trụ tròn rỗng, dài 33cm, đường kính nhỏ nhất 1,3cm, lớn nhất 02cm; 01 ống kim loại hình trụ tròn, dài 38,5cm, đường kính nhỏ nhất 1,5cm, lớn nhất 02cm; 01 mũi khoan kim loại dài 15cm, đường kính 1,1cm; 01 mũi khoan kim loại dài 38cm, đường kính 0,5cm; 01 thanh kim loại dẹt mỏng, dài 31,5cm, rộng 02cm;
  • - 01 máy khoan, đục có kích thước 94x56cm;
  • - 01 máy khoan điện dài 23cm, cao 17cm;
  • - 01 ống kim loại hình trụ tròn dài 1,18m;
  • - 07 thanh Giũa sắt, mỗi thanh dài 28cm, rộng 02cm;
  • - 01 hộp que hàn;
  • - 01 máy hàn điện kèm dây hàn;
  • - 01 khẩu súng tự chế bắn đạn ghém cỡ 28, có chiều dài 42cm thuộc vũ khí quân dụng, được niêm phong theo quy định;
  • - 01 khẩu súng tự chế bắn đạn cỡ 7,62x39mm, có chiều dài 35cm thuộc vũ khí quân dụng, được niêm phong theo quy định;
  • - 01 khẩu súng tự chế bắn đạn ghém cỡ 32, có chiều dài 28cm thuộc vũ khí quân dụng, được niêm phong theo quy định;
  • - 04 viên đạn cỡ 7,62x39mm, thuộc vũ khí quân dụng, được niêm phong theo quy định, ký hiện G2.

[5] Về án phí: Bị cáo là thành viên trong hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí. Xét bị cáo thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, do đó cần chấp nhận đơn xin miễn án phí của bị cáo.

[6] Đối với Hoàng Văn H là người mua 03 khẩu súng với Nguyễn Văn G, nhưng tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án thể hiện H có mua 03 khẩu súng kíp với G.Quá trình điều tra không thu giữ được 03 khẩu súng này, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở kết luận để xử lý đối với H.

Đối với người mà G khai đã cho G đạn quân dụng, đạn ghém, vỏ đạn ghém nhưng G không cung cấp được thông tin cụ thể nên không có cơ sở để xác minh, làm rõ.

Đối với hành vi chế tạo, tàng trữ phép 07 khẩu súng kíp (thuộc súng săn), 02 viên đạn ghém cỡ 28 (thuộc đạn súng săn), 06 Nỏ gỗ (thuộc vũ khí thô sơ). Ngày 18/10/2023 Chủ tịch UBND huyện V đã ra Quyết định số 2388/QĐ-XPHC xử phạt hành chính đối với hành vi này, ngày 30/10/2023 Nguyễn Văn G đã thi hành xong khoản tiền phạt.

[7] Xét ý kiến của người bào chữa tại phiên tòa về nhân thân, hoàn cảnh của bị cáo là có cơ sở, cần được xem xét. Đối với đề nghị cho bị cáo được áp dụng quy định xét xử dưới khung hình phạt của người bào chữa là không đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[8] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tại phiên toà hôm nay về tội danh và các vấn đề khác là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

1.Về hình phạt.

1.1. Về hình phạt chính:

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 304; Điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn G 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2023.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo G trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

1.2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu G4, bên trong có 04 vỏ đạn có cùng chiều dài 5,2cm, đường kính 1,5cm, đáy có số “28”;
  • - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu G5, bên trong có: 01 vỏ đạn dài 2,5cm; 01 vỏ đạn có chiều dài 3,25cm; 01 vỏ đạn có chiều dài 4cm; 02 đầu đạn dài lần lượt 1,3cm và 1,4cm, cùng có đường kính 7,62mm;
  • - 01 (một) hộp giấy niêm phong ký hiệu B;
  • - 01 (một) ống kim loại hình trụ tròn mặt ngoài đã han rỉ, bên trong được tiện nòng, chiều dài 1,34m, đường kính 1,5cm;
  • - 02 (hai) đoạn sừng trâu dài 13cm, phần rộng nhất 06cm, hẹp nhất 01cm;
  • - 01 (một) chi tiết máy kim loại kích thước 56x32x28(cm);
  • - 01 (một) chi tiết máy màu cam hình trụ kích thước 23x22(cm);
  • - 01 (một) cưa kim loại kích thước 40x09(cm);
  • - 01 (một) hộp kim loại kích thước 46x11x10 (cm) bên trong có 09 thanh kim loại thứ tự: 01 ống hình trụ tròn rỗng bên trong có chiều dài 20cm, đường kính nhỏ nhất 1,5cm, lớn nhất 02cm; 01 ống kim loại hình trụ tròn rỗng, dài 20,5cm, đường kính nhỏ nhất 1,3cm, lớn nhất 02cm; 01 ống kim loại hình trụ tròn, dài 24cm, đường kính nhỏ nhất 1,3cm, lớn nhất 02cm; 01 ống kim loại hình trụ tròn, dài 29,5cm, đường kính nhỏ nhất 2cm, lớn nhất 2,3cm; 01 ống kim loại hình trụ tròn rỗng, dài 33cm, đường kính nhỏ nhất 1,3cm, lớn nhất 02cm; 01 ống kim loại hình trụ tròn, dài 38,5cm, đường kính nhỏ nhất 1,5cm, lớn nhất 02cm; 01 mũi khoan kim loại dài 15cm, đường kính 1,1cm; 01 mũi khoan kim loại dài 38cm, đường kính 0,5cm; 01 thanh kim loại dẹt mỏng, dài 31,5cm, rộng 02cm;
  • - 01 (một) máy khoan, đục có kích thước 94x56cm;
  • - 01 (một) máy khoan điện dài 23cm, cao 17cm;
  • - 01 (một) ống kim loại hình trụ tròn dài 1,18m;
  • - 07 (bẩy) thanh Giũa sắt, mỗi thanh dài 28cm, rộng 02cm;
  • - 01 (một) hộp que hàn;
  • - 01 (một) máy hàn điện kèm dây hàn;
  • - 01 (một) khẩu súng tự chế bắn đạn ghém cỡ 28, có chiều dài 42cm thuộc vũ khí quân dụng, được niêm phong theo quy định;
  • - 01 (một) khẩu súng tự chế bắn đạn cỡ 7,62x39mm, có chiều dài 35cm thuộc vũ khí quân dụng, được niêm phong theo quy định;
  • - 01 (một) khẩu súng tự chế bắn đạn ghém cỡ 32, có chiều dài 28cm thuộc vũ khí quân dụng, được niêm phong theo quy định;
  • - 04 (bốn) viên đạn cỡ 7,62x39mm, thuộc vũ khí quân dụng, được niêm phong theo quy định, ký hiện G2.

* Về tình trạng vật chứng: Vật chứng nêu trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai và gửi tại Kho vật chứng thuộc Đại đội 29, Phòng Kỹ thuật Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh T theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/9/2023 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai; Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/8/2023 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh TBộ Chỉ huy quân sự tỉnh T.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, có mặt người bào chữa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn H. Bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh;
  • - VKSND huyện Võ Nhai;
  • - Công an huyện Võ Nhai;
  • - CCTHADS huyện Võ Nhai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Kim Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2023/HS-ST ngày 06/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN về chế tạo, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

  • Số bản án: 55/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Chế tạo, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 06 năm tù cho hành vi chế tạo, tàng trữ và mua bán vũ khí, quân dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger