TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 55/2023/HNGĐ - ST Ngày 14 - 8 - 2023 “V/v Tranh chấp ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Phượng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Kim Thủy
Ông Lê Xuân Tý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Linh– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Dương Thanh Giềng – Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 51/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 38/2023/QĐXXST - HNGĐ, ngày 16 tháng 6 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Thanh T, sinh năm 1981. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, thị trấn N, huyện V, Hậu Giang
Bị đơn: Bà Lee Yu T1, sinh năm 1982. (vắng mặt)
Địa chỉ: Số G L, khóm B, Thôn L, làng T, huyện G, Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Trần Thanh T trình bày: Trước đây khi ông Trần Thanh T lao động tại Đài Loan có nảy sinh quan hệ tình cảm với bà Lee Yu T1. Sau đó ông Trần Thanh T và bà Lee Yu T1 về Việt Nam để tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 114 ngày 12 tháng 9 năm 2018. Sau khi kết hôn, bà Lee Yu T1 về Đài Loan sinh sống còn ông Trần Thanh T ở lại Việt Nam. Sau khi bà Lee Yu T1 về Đài Loan, ông bà vẫn thường xuyên liên lạc hỏi thăm, quan tâm, lo lắng cho nhau. Đến khoảng cuối năm 2019, bà Lee Yu T1 cắt liên lạc với ông và ông đã nhiều lần liên lạc nhưng không được. Nhận thấy thời gian ly thân đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Trần Thanh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Lee Yu T1.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Ông Trần Thanh T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn bà Lee Yu T1 từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp cho Bộ Tư pháp Lãnh thổ Đài Loan, để tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng bà Lee Yu T1 vắng mặt và cũng không có gửi văn bản nêu ý kiến gì để phản hồi đến Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết cho ông Trần Thanh T được ly hôn với bà Lee Yu T1 theo quy định của pháp luật; Về con chung, tài sản chung và nợ chung, do đương sự khai không có nên đề nghị không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng
Nguyên đơn ông Trần Thanh T, có địa chỉ thường trú tại huyện V, tỉnh Hậu Giang, có đơn khởi kiện xin ly hôn với bị đơn bà Lee Yu T1 là người nước ngoài, quốc tịch Trung Quốc và đang cư trú tại Lãnh thổ Đài Loan. Quan hệ hôn nhân giữa ông Trần Thanh T và bà Lee Yu T1 có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Bị đơn bà Lee Yu T1 đã được Tòa án tiến hành thực hiện ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Lãnh thổ Đài Loan, để tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Theo đó, Cơ quan có thẩm quyền của Lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện ủy thác tư pháp vào ngày 20 tháng 4 năm 2023, nhưng đến nay bị đơn vẫn không có ý kiến bằng văn bản gửi đến Tòa án. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn bà Lee Yu T1.
Nguyên đơn ông Trần Thanh T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn ông Trần Thanh T, theo quy định khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
[2.1] Về quan hệ hôn nhân
Ông Trần Thanh T và bà Lee Yu T1 chung sống với nhau và đã đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Quan hệ hôn nhân của ông Trần Thanh T và bà Lee Yu T1 được pháp luật Việt Nam thừa nhận. Thời gian ông Trần Thanh T và bà Lee Yu T1 ly thân từ năm 2019 đến nay đã lâu. Cả hai vợ chồng không còn liên lạc, không còn tình cảm, quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa ông Trần Thanh T và bà Lee Yu T1 đã không có cơ hội hàn gắn và đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông Trần Thanh T được ly hôn với bà Lee Yu T1.
[2.2] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Thanh T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[3] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Trần Thanh T phải chịu theo quy định của pháp luật.
[5] Về lệ phí ủy thác tư pháp: Ông Trần Thanh T phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; Điều 147; Điều 470; Điều 474; Điều 477; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27; Điều 44 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Thông tư số 12/2016/TTLT – BTP – BNG - TANDTC ngày 19/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ N và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự;
Áp dụng Điều 51; Điều 56 và Điều 122 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho ông Trần Thanh T được ly hôn với bà Lee Yu T1.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Thanh T khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Trần Thanh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí ông Trần Thanh T đã nộp theo Biên lai thu số 0000191 ngày 12 tháng 10 năm 2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang thành án phí.
- Lệ phí ủy thác tư pháp: Ông Trần Thanh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng lệ phí ủy thác tư pháp ông Trần Thanh T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000240 ngày 10 tháng 11 năm 2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang thành lệ phí ủy thác tư pháp.
- Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Phượng |
Bản án số 55/2023/HNGĐ - ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 55/2023/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYÊN ĐƠN XIN LY HÔN VỚI BỊ ĐƠN LÀ NGƯỜI ĐÀI LOAN
