|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 55/2021/HS-ST |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Châm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Song Hoàn, Ông Đặng Ngọc Thương
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2021, đối với các bị cáo:
1. Lê Thị Kim T (Tên gọi khác: B, T1), sinh năm: 1984 tại: Bà Rịa-Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ….đường B, Phường B, thành phố V, tỉnh B; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Cao Đài; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Lê Văn S; Mẹ: Thiệu Tấn C; Chồng (Không đăng ký kết hôn): Nguyễn T Đ; Có 03 người con, con lớn sinh năm 2006, con thứ hai sinh năm 2015, con nhỏ sinh ngày: 05/11/2020. Tiền án; Tiền sự: Không. Bị cáo được tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 133/CQĐT ngày 29/10/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vũng Tàu (Có mặt).
2. Nguyễn T Đ (tên gọi khác: B), sinh năm 1985 tại Bà Rịa-Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ….đường B, Phường B, thành phố V, tỉnh B; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Nguyễn Văn Đ; Mẹ: Trần Thị L; Vợ (Không đăng ký kết hôn): Lê Thị Kim T; Con: Có 01 người con sinh ngày 05/11/2020.
Tiền án: Ngày 22/7/2009, bị Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tuyên phạt 15 năm 08 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và “Giết người” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2009/HSST. Chấp hành xong hình phạt ngày 19/6/2018. Tiền sự: Không. Bị can bị bắt ngày 29/10/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu. (Có mặt).
3. Ngô Đình T, sinh năm: 1981, tại: Bà Rịa-Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ….đường N, Phường B, thành phố V, tỉnh B; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 0/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Ngô Đình L; Mẹ: Nguyễn Thị Minh N. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 132/CQĐT ngày 25/10/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vũng Tàu (Có mặt).
Bị hại: Anh Cao TT, sinh năm: 1972; Nơi cư trú: ….đường N, Phường B, thành phố V, tỉnh B (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ ngày 25/10/2020, Lê Thị Kim T và Nguyễn T Đ đến khu vực ngã tư Bến Đình thì gặp Ngô Đình T đang đi xe đạp. Tại đây, cả 3 nhìn thấy chiếc xe máy hiệu Yamaha Taurus màu đen, biển số: 72X2-7398 của anh Cao TT dựng trên vỉa hè, bên hông lò bánh mì địa chỉ số: … Lê Lợi, phường Thắng Nhì, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có người trông coi, T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe nên rủ T và Đ cùng tham gia. Cả 3 thống nhất đồng ý. T mua cho T 01 lon nước ngọt để T đứng cảnh giới còn T trực tiếp lấy trộm, Đ cũng nấp vào gần tủ điện bên hông Ủy ban nhân dân phường Thắng Nhì - đối diện chỗ dựng chiếc xe để cảnh giới cho T.
Sau khi quan sát không thấy có ai, nhìn về phía T, thấy T giơ tay ra hiệu cho T không có người nên T lén lút dắt trộm chiếc xe 72X2-7398 vào giấu trong hẻm số 04 đường Thắng Nhì rồi quay ra lấy xe máy chạy đi. Thấy T đã lấy trộm được xe, T đạp xe bỏ đi, chỉ còn Đ lại đi vào hẻm 04 Thắng Nhì giật dây điện ổ khóa xe 72X2-7398, đạp nổ máy rồi chạy về giấu trong hẻm gần tiệm Game bắn cá địa chỉ: … Trần Phú, Phường 5, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Khoảng 02 giờ cùng ngày, T tới cùng với Tí (chưa rõ lai lịch), nhờ Tí mang chiếc xe đi cầm. Đến khoảng 11 giờ ngày 25/10/2020, tại hẻm … Nguyễn An Ninh, Tí đưa cho Đ số tiền 950.000 đồng từ việc cầm cố chiếc xe 72X2-7398 mà Đ, T và T trộm cắp được. Đ đưa hết cho T và được T đưa cho 400.000 đồng.
Sau khi hành vi trộm cắp xe máy nói trên bị phát hiện, T đưa cho Đ 1.100.000đ để chuộc chiếc xe về đã nhờ mẹ T mang xe trả cho anh Cao TT. Sau đó, anh T đã giao nộp chiếc xe trên cho Công an phường Thắng Nhì, thành phố Vũng Tàu.
Theo kết luận định giá tài sản số: 205/KL-HĐĐG-TTHS ngày 04/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố Vũng Tàu xác định giá trị tài sản chiếc xe Yamaha Taurus 72X2-7398 là: 2.650.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 25/10/2020, tại địa chỉ 233 Lê Lợi, phường Thắng Nhì, thành phố Vũng Tàu các bị cáo Ngô Đình T, Nguyễn T Đ và Lê Thị Kim T đã lén lút trộm cắp của anh Cao TT 01 xe mô tô hiệu Yamaha, biển kiểm soát 72X2-7398, giá trị còn lại của chiếc xe là 2.650.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
I. Tuyên bố các bị cáo Lê Thị Kim T; Nguyễn T Đ; Ngô Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, n, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Kim T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày 09 tháng 3 năm 2021.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i và s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Đình T 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày 09 tháng 3 năm 2021.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn T Đ 9 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/10/2020.
II. Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo Lê Thị Kim T, Nguyễn T Đ, Ngô Đình T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Châm |
Bản án số 55/2021/HS-ST ngày 09/03/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 55/2021/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/03/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, n, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự : Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Kim T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày 09 tháng 3 năm 2021. 2. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i và s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Đình T 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày 09 tháng 3 năm 2021. 3. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn T Đ 9 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/10/2020.
