Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CM
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 55/2021/HNGĐ-ST

Ngày: 05-02-2021.

V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Ngô Văn Mừng;
  2. Bà Nguyễn Thị Ly.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Trong ngày 05 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 905/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 628/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2021/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Thị H (H), sinh năm 1998; nơi cư trú: ấp VĐ1, thị trấn VT, huyện VT, tỉnh Kiên Giang; địa chỉ liên lạc: đường Khánh Bình 9, khu phố KV, thị xã TU, tỉnh Bình Dương, (có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1986; nơi cư trú: ấp Đông Châu, xã MH, huyện CM, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai nguyên đơn bà Thị H trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn T cưới nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MH, hôn nhân do ông bà tự tìm hiểu và được cha mẹ đồng ý. Thời gian chung sống vợ chồng hay phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm hay cãi nhau, chồng thường hay ghen tuông vô cớ, đến tháng 6 năm 2020 thì mâu thuẫn trầm trọng và ly thân cho đến nay. Bà xác định tình cảm không còn nên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T; về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thị Trúc P, sinh ngày 10/01/2015 hiện nay chồng đang chăm sóc nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà đồng ý để chồng được tiếp tục nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung: không có.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vắng mặt không lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của ông về nội dung đơn khởi kiện của bà H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Bà Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Ông T có nơi cư trú tại ấp Đông Châu, xã MH, huyện CM, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện CM thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

- Về nội dung:

[3] Về hôn nhân: Bà Thị H và ông Nguyễn Văn T xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau vào năm 2013 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Thời gian chung sống ông, bà thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo bà H trình bày vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, thường hay cãi nhau, chồng thường hay ghen tuông vô cớ nên đã sống ly thân từ tháng 6/2020 đến nay. Bà xác định tình cảm không thể tồn tại và hàn gắn được; cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Hội đồng xét xử xét thấy, ông Nguyễn Văn T đã được tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn và thông báo đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của bà H và vắng mặt không lý do. Điều này thể hiện vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Bà Thị H xác định vợ chồng có 01 con chung Nguyễn Thị Trúc P, sinh ngày 10/01/2015 hiện nay chồng đang chăm sóc nuôi dưỡng. Bà đồng ý để chồng được tiếp tục nuôi con chung sau khi ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, từ lúc vợ chồng ly thân đến nay ông T là người trực tiếp nuôi con chung nên tình cảm, tâm tư gắn liền với người nuôi dưỡng. Hơn nữa, bà H cũng không có tranh chấp gì về việc nuôi con chung. Do đó, cần để ông T tiếp tục nuôi con chung là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Do bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Về án phí: bà Thị H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227, 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
  • - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thị H và xử như sau:

- Về hôn nhân: Cho bà Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Giấy chứng nhận kết hôn số 71 do Ủy ban nhân dân xã MH, huyện CM, tỉnh An Giang cấp ngày 29 tháng 5 năm 2018 không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Ông Nguyễn Văn T được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Thị Trúc P, sinh ngày 10/01/2015, bà Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Văn T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Thị H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về án phí: Bà Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0013888 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM, tỉnh An Giang cấp ngày 12 tháng 11 năm 2020. Bà Thị H đã nộp đủ.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:
- VKSND H. CM;
- TAND tỉnh An Giang;
- Chi cục THADS H. CM;
- UBND xã MH, h. CM;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)



Phạm Văn Dương
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2021/HNGĐ-ST ngày 05/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 55/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/02/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong đơn khởi kiện và các lời khai nguyên đơn bà Thị H trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn T cưới nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã MH, hôn nhân do ông bà tự tìm hiểu và được cha mẹ đồng ý. Thời gian chung sống vợ chồng hay phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm hay cãi nhau, chồng thường hay ghen tuông vô cớ, đến tháng 6 năm 2020 thì mâu thuẫn trầm trọng và ly thân cho đến nay. Bà xác định tình cảm không còn nên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T; về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thị Trúc P, sinh ngày 10/01/2015 hiện nay chồng đang chăm sóc nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà đồng ý để chồng được tiếp tục nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung: không có.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger