Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK MIL

TỈNH ĐẮK NÔNG

Bản án số: 55/2021/DS-ST

Ngày: 18/6/2021

V/v "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Ngọc Thanh;

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phan Sỹ Phác và ông Nguyễn Duy Chấn;

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Kim Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 18/6/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 370/2020/TLST-DS ngày 25/11/2020 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2021/QĐXXST-DS ngày 23/4/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2021/QĐXX-ST ngày 18/5/2021, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng C
  • Địa chỉ trụ sở chính: 266-268, đường N, phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc;
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh N– Chức vụ: Trưởng Phòng giao dịch Đắk Mil – Sacombank Đắk Nông (giấy ủy quyền số 4001/2019/GUQ-PL ngày 16-12-2019);
  • Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Văn Th - Chức vụ: Phó Phòng giao dịch Tiềm năng Đắk Mil, phụ trách Kinh doanh (theo giấy ủy quyền số 03D/2020/GUQ-PGDĐM ngày 02-01-2020);
  • Địa chỉ: Số 61 Nguyễn Tất Thành, thị trấn Đắk Mil, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
  • - Bị đơn: Ông Phạm Văn S – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
  • Bà Nguyễn Thị T – Vắng mặt, (đã tống đạt hợp lệ lần 2);
  • Địa chỉ: Thôn Đ, xã G, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 14/10/2020, lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Th trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa trình bày:

Vào ngày 08/3/2018, giữa Ngân hàng C với ông Phạm Văn S và bà Nguyễn Thị T có ký hợp đồng tín dụng số 463/18/HDCTD vay số tiền 400.000.000 đồng và hợp đồng cho vay số LD1806700044 ngày 08/3/2018. Thời hạn vay là 36 tháng, hạn trả nợ là ngày 08/3/2021. Lãi suất cho vay 03 tháng đầu tiên là 12%/tháng, Kể từ tháng thứ 04 trở đi lãi suất của toàn bộ dư nợ vay sẽ được Ngân hàng điều chỉnh bằng lãi suất huy động tiết kiệm VNĐ 13 tháng, lãnh lãi cuối kỳ VNĐ + biên độ 5%/năm và được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần phù hợp với quy định của ngân hàng nhà nước về lãi suất cho vay nhưng không được thấp hơn lãi suất ban đầu; lãi phạt chậm trả vốn 150% lãi suất hợp đồng tín dụng; phạt chậm trả lãi là 10%/năm; ông S và bà T đã thanh toán được 50.000.000 đồng tiền gốc.

Đến ngày 05/3/2019, ông S và bà T đã ký giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ với Ngân hàng C số LD1906400678, vay số tiền 50.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng, ngày trả nợ cuối cùng 05/3/2020, lãi suất tháng đầu tiên là 17,5%/năm. Tại thời điểm bắt đầu tháng thứ 02 kể từ ngày nhận nợ trở đi, lãi suất của khoản vay được áp dụng theo mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm VNĐ 12 tháng lãnh lãi cuối kỳ của Sacombank + (cộng) biên độ 10,6%/năm và được Sacombank quyết định điều chỉnh theo định kỳ 01 tháng/lần và phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cho vay. Thời hạn trả nợ kỳ 01, ngày 05/9/2019 ông S và bà T phải có nghĩa vụ trả số tiền 1.000.000 đồng, ngày 05/3/2020 trả số tiền 49.000.000 đồng, hình thức giải ngân là chuyển khoản vào số tài khoản 050056387983 mang tên bà T; ông S và bà T đã thanh toán được 1.000.000 đồng tiền gốc.

Về tài sản đảm bảo cho khoản vay 400.000.000 đồng: Ngân hàng C với ông S và bà T đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 221/17/TC ngày 06/3/2017 và thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/17/TC ngày 08/3/2018 là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất số BY 061948, thửa đất số 197, tờ bản đồ số 69, diện tích 13.489m2, do Ủy ban nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông cấp ngày 08-10-2015; đất tọa lạc tại xã thôn Đ, xã G, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đứng tên hộ ông Phạm Văn S và bà Nguyễn Thị T. Hợp đồng thế chấp đã được chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.

Quá trình thực hiện hợp đồng, khi đến hạn thanh toán thì ông S và bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, cố tình vi phạm hợp đồng đã ký kết. Vì vậy, Ngân hàng C yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil giải quyết, buộc ông S và bà T phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 18/6/2021) là 541.545.258 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung khởi kiện của nguyên đơn: Việc giao kết hợp đồng tín dụng giữa các bên là có thật, nội dung thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng ông S và bà T không trả tiền gốc và tiền lãi theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa 02 bên là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Do đó, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông S và bà T phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc của 02 Hợp đồng tín dụng là 350.000.000 đồng + 49.000.000 đồng = 399.000.000 đồng là có căn cứ, cần chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 về đăng ký biện pháp bảo đảm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" đối với bị đơn ông Phạm Văn S và bà Nguyễn Thị T.
  2. Buộc ông Phạm Văn S và bà Nguyễn Thị T phải trả cho Ngân hàng C tổng số tiền tính đến ngày 18/6/2021 là 541.545.258 đồng.
  3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Phạm Văn S và bà Nguyễn Thị T phải hoàn trả cho Ngân hàng C số tiền 4.000.000 đồng.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn S và bà Nguyễn Thị T phải chịu 25.662.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Đắk Mil;
  • - Chi cục THADS huyện Đắk Mil;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(đã ký và đóng dấu)

Trương Ngọc Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2021/DS-ST ngày 18/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 55/2021/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng C yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil giải quyết, buộc ông S và bà T phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả và các khoản phát S liên quan theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 18/6/2021) là 541.545..258 đồng, cụ thể: Theo hợp đồng cho vay số LD1806700044, ký ngày 08/3/2018 số tiền gốc 350.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 101.934.725 đồng, tiền lãi quá hạn 12.485.377 đồng và tiền lãi chậm trả 6.704.436 đồng. Theo giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD1906400678, ký ngày 05/3/2019 số tiền gốc 49.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 15.336.871 đồng, tiền lãi quá hạn 5.532.637 đồng và tiền lãi chậm trả 551.212 đồng. Buộc ông S và bà T phải tiếp tục chịu lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến ngày thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng. Trong trường hợp bị đơn không thực hiện đúng việc trả nợ thì yêu cầu Tòa án cho kê biên, phát mãi các tài sản của ông S và bà Tinh để thu hồi nợ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger