|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU Bản án số: 55/2021/DS-PT Ngày 23 – 3 – 2021 V/v tranh chấp Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hùng Quang.
Các Thẩm phán: Ông Hà Thanh Hùng; Bà C1 Minh Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Bằng – Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Hữu Duy Khánh – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 356/2020/TLPT-DS ngày 12 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 177/2020/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 339/2020/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Quang P1, sinh năm: 1971 (có mặt).
Địa chỉ: Nhà không số, đường Nguyễn T, khóm 1, phường 8, thành phố C, tỉnh C.
- Bị đơn: Ông Trịnh Trọng H1, sinh năm: 1976.
Địa chỉ: Số 174, đường Nguyễn T, khóm 1, phường 8, thành phố C, tỉnh C.
Người đại diện theo ủy quyền cho ông H1: Ông Nguyễn Văn Nhung, sinh năm: 1975 (có mặt).
Địa chỉ: Số 85, đường Lưu Hữu Phước, khóm 8 phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1/ Bà Trần Thị Bé N1, sinh năm: 1971.
- 2/ Anh Trần Quang N2, sinh năm: 1996.
- 3/ Anh Trần Thanh N2, sinh năm 2005.
- Cùng địa chỉ: Nhà không số, đường Nguyễn T, khóm 1, phường 8, thành phố C, tỉnh C.
- Người đại diện theo pháp luật của Trần Thanh N2 là ông Trần Quang P1 và bà Trần Thị Bé N1.
- Bà Trần Thị Bé N1, anh Trần Quang N2 ủy quyền cho ông Trần Quang P1 tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 21/8/2019. (có mặt)
- 4/ Ông Nguyễn Văn D1 (vắng mặt). Địa chỉ: Xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn D1: Ông Lê Minh C1. Địa chỉ: Số 215, Nguyễn D, phường 5, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- 5/ Bà Tô Kim H (Tô Kim Q), sinh năm 1977. Địa chỉ: Số 174, đường Nguyễn T, khóm 1, phường 8, thành phố C, tỉnh C.
- 6/ Bà Trịnh Kim K1, sinh năm 1966 (vắng mặt). Địa chỉ: xã K, huyện T, tỉnh B.
- 7/ Bà Trịnh Kim N4 (vắng mặt). Địa chỉ: Khóm 1, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- 8/ Ông Trịnh Trọng Q2 (vắng mặt). Địa chỉ: Khóm 1, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- 9/ Ông Trịnh Trọng B, (vắng mặt). Địa chỉ: Khóm 1, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- 10/ Ông Trịnh Quốc K2 (vắng mặt). Địa chỉ: Khóm 1, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- 11/ Bà Trịnh kiều Oanh, sinh năm 1958 (xin vắng mặt). Địa chỉ: Ấp T, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- 12/ Ông Trịnh Minh T (vắng mặt). Địa chỉ: Quốc Lộ 1A, xã Lương thế Trân, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
- 13/ Ông Trịnh Khải H2 (vắng mặt). Địa chỉ: Ấp V, xã H, huyện C, tỉnh C.
- 14/ Ông Trịnh Văn Trang (đã chết – không có người thừa kế).
- 15/ Ông Trịnh Văn Tự (đã chết – không có người thừa kế).
- 16/ Ông Trịnh Văn Vệ (đã chết – không có người thừa kế).
- 17/ Bà Trịnh Kim Hiên (đã chết).
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trịnh Kim Hiên:
- 1/ Ông Trần Quang P1.
- 2/ Bà Trần Hồng C2, sinh năm 1972 (vắng mặt).
- 3/ Bà Trần Mỹ C3, sinh năm 1977. Người đại diện theo ủy quyền của Trần Mỹ C3 là ông Trần Quang P1.
- 4/ Ông Trần Quang U, sinh năm 1979. Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Quang U là ông Trần Quang P1.
- 18/ Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam, chi nhánh Đất Mũi. Địa chỉ: Số 27, Ngô Q, phường 2, thành phố C, tỉnh C. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đoàn Mỹ Lợi (vắng mặt).
- 19/ Ủy ban nhân dân thành phố Cà Mau (xin vắng mặt). Địa chỉ: Số 77, đường Ngô Quyền, phường 9, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Trịnh Trọng H1, là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và lời khai được bổ sung tại phiên tòa, ông Trần Quang P1 là nguyên đơn trình bày: Vào năm 1997, ông Ngoại ông là Trịnh Thành Kế cho ông một phần đất chiều ngang 4m, chiều dài 25m để cất nhà và ở thờ cúng mẹ ông là bà Trịnh Kim Hiên. Khi cho đất ông Kế có chỉ vị trí chứ không có làm giấy tờ. Đến ngày 29/11/2005 ông Kế có làm giấy tay cho đất được trưởng khóm là ông Nguyễn Văn Công ký xác nhận và được ông Hứa Minh Bạch là người giáp ranh đất ký tên chứng kiến.
Nguồn gốc đất của ông Kế là ông được Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Cà Mau cấp. Đến ngày 31/3/2005 ông Kế được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích là 718,34m2. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến ngày 29/11/2005 thì ông Kế làm giấy cho đất ông. Do lúc này giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp Ngân hàng nên chưa làm thủ tục chuyển tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Năm 2007 ông Kế chết, ông có liên hệ với ông Trịnh Trọng H1 làm thủ tục tách sổ cho ông, ông H1 đồng ý và yêu cầu ông đưa 50.000.000đ để trả nợ Ngân hàng. Sau đó ông H1 đem quyền sử dụng đất về chuyển tên sang cho ông H1, nhưng không tách thửa cho ông. Khi Ủy ban nhân dân thành phố Cà Mau cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H1 thì trên phần đất có nhà của vợ, chồng ông đã ở từ năm 1997. Ủy ban nhân dân không thu hồi hay có ý kiến gì mà lại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H1.
Nay ông Trần Quang P1 yêu cầu Tòa án công nhận cho ông được quyền quản lý sử dụng đối với phần đất có diện tích ngang 4m, dài 25m, tổng cộng là 100m2. Yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 751786 ngày 28/01/2008 do ông H1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông với diện tích 100m2. Tại phiên tòa ông P1 thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trịnh Trọng H1 không yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như đơn khởi kiện ban đầu và rút lại yêu cầu khởi kiện đối với việc yêu cầu ông Trịnh Trọng H1 tháo dỡ căn chòi ngang 4m, dài 25m.
Tại đơn phản tố ngày 25/7/2019 và lời khai ông Trịnh Trọng H1 là bị đơn trình bày: Cha ông là ông Trịnh Thành Kế chết ngày 21/02/2007. Mẹ ông là bà Trần Thị Nảng, chết ngày 18/4/2005. Năm 1983, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Minh Hải cấp cho gia đình ông một phần đất diện tích 2.380m2 ở khóm 1, phường 8, thành phố C, tỉnh C. Sau khi được cấp đất, cha mẹ ông đã chia đất cho các con để cất nhà ở, phần diện tích còn lại là 718,34m2 tại thửa số 136, tờ bản đồ số 17, khóm 1, phường 8, thành phố Cà Mau, do ông Trịnh Thành Kế đứng tên quyền sử dụng đất.
Ngày 21/8/2003, cha mẹ ông lập di chúc giao toàn bộ phần đất 718,34m2 cho vợ, chồng ông. Trên phần đất cha, mẹ ông lập di chúc, có cho ông Trần Quang P1 là cháu ngoại mượn, một phần đất ngang 4,15m, dài 9m cất nhà ở tạm. Trong bản di chúc ngày 21/8/2003 cha, mẹ ông xác định “Cho Trần Quang P1 được ở lâu dài không được sang nhượng khi nào Huy cần trả lại cho Huy”. Nay ông yêu cầu phản tố yêu cầu ông Trần Quang P1 và bà Trần Bé Năm phải tháo dỡ nhà, trả đất cho ông theo đúng di chúc ngày 21/8/2003.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của ông Trịnh Trọng H1, Hội đồng xét xử xét thấy: Về nguồn gốc phần đất tranh chấp, diện tích 100m2 hiện nay ông P1 và ông H1 tranh chấp, nằm trong phần đất diện tích 718,34m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông H1 đứng tên từ năm 2008 đến nay. Các đương sự đều thừa nhận phần đất trước đây là của ông Trịnh Thành Kế là cha ruột của ông Trịnh Trọng H1, ông ngoại của ông Trần Quang P1.
[2] Xét thấy phần đất tranh chấp ông P1 đã sử dụng cất nhà ổn định từ năm 1997 đến nay. Năm 2005, ông Kế tiếp tục làm tờ đơn xin cho đất cho ông P1, thời điểm cho đất, phần đất thuộc quyền sở hữu sử dụng của ông Kế và ông Kế là người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nội dung tờ cho đất ông P1 là vĩnh viễn, với điều kiện là không được chuyển nhượng, nếu có chuyển nhượng phải được sự đồng ý của ông Kế. Như vậy đây là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có điều kiện, điều kiện này được ràng buộc giữa ông P1 và ông Kế. Nay chủ thể đặt điều kiện là ông Kế đã chết năm 2007 nên điều kiện này không còn.
[3] Đối với số tiền 50.000.000 đồng mà ông P1 đã đưa cho ông H1 và bà Huyên. Các đương sự thống nhất số tiền hiện nay ông H1, bà Huyên đang quản lý nhưng ông P1 xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên không xem xét.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 217, 218, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 166 của Bộ luật dân sự; Căn cứ vào các Điều 95, 100, 167, 168, 169, 203 Luật đất đai năm 2013.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trịnh Trọng H1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 177/2020/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang P1.
Tuyên xử:
- Công nhận cho ông Trần Quang P1 được quyền quản lý, sử dụng đối với 100,1m2 đất tọa lạc tại đường Nguyễn Trung Trực, khóm 1, phường 8, thành phố Cà Mau theo bản trích đo hiện trạng ngày 05/3/2020.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang P1 về việc yêu cầu buộc ông Trịnh Trọng H1 phải tháo dỡ căn chòi trên đất.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trịnh Trọng H1 về việc yêu cầu ông Trần Quang P1, bà Trần Thị Bé N1 phải tháo dỡ nhà trả lại phần đất 100m2 tọa lạc tại khóm 1, phường 8, thành phố C, tỉnh C.
- Về chi phí tố tụng khác: Buộc ông Trịnh Trọng H1 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Trần Quang P1 chi phí giám định chữ ký, đo đạc, thẩm định và định giá tài sản tổng cộng là 15.942.000 đồng.
- Về án phí: Ông P1 không phải chịu. Ông Trịnh Trọng H1 phải chịu 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân T.p Cà Mau; - Chi cục THADS T.p Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn, VT. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Hùng Quang |
Bản án số 55/2021/DS-PT ngày 23/03/2021 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Số bản án: 55/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/03/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm
