|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG ________________ Bản án số: 55/2021/DS-PT Ngày: 17-3-2021 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ________________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Lực.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Huyền; Ông Nguyễn Đắc Cường.
- Thư ký phiên toà: Ông Lý Đạo Phú Quý - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 295/2020/TLPT-DS ngày 22/10/2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2020/DS-ST ngày 05/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 364/2020/QĐ-PT ngày 10/12/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2021/QĐ-PT ngày 07/01/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2021/QĐ-PT ngày 03/02/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông N.T.V, sinh năm 1993; địa chỉ: Huyện U, tỉnh Bình Dương.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông H.V.T, sinh năm 1970; địa chỉ: Thành phố A, tỉnh Bình Dương (theo văn bản ủy quyền ngày 16/3/2020). Ông H.V.T có mặt.
- Bị đơn:
- Ông T.Đ.T, sinh năm 1992.
- Bà N.T.N, sinh năm 1968.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà T.T.K.H, sinh năm 1988; địa chỉ: Huyện P, tỉnh Bình Dương. Bà T.T.K.H vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà N.T.N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/3/2020 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông N.T.V và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông H.V.T trình bày:
Trước ngày 29/12/2019, ông N.T.V đã nhiều lần giao tiền cho ông T.Đ.T vay với tổng số tiền gốc đã giao là 620.000.000 đồng. Khi giao tiền thì hai bên không làm giấy tờ. Ngày 29/12/2019 thì hai bên làm văn bản xác nhận nợ thể hiện ông T.Đ.T và bà N.T.N (mẹ ông T.Đ.T) vay của ông N.T.V số tiền 620.000.000 đồng. Ông T.Đ.T, bà N.T.N cam kết thời hạn vay đến ngày 22/01/2020 sẽ trả cho ông N.T.V 300.000.000 đồng và đến ngày 22/02/2020 sẽ trả 320.000.000 đồng. Đồng thời, các bên có thỏa thuận miệng số tiền lãi mà ông T.Đ.T, bà N.T.N phải trả từ ngày 29/12/2019 cho đến ngày 22/02/2020 là 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến nay, ông T.Đ.T và bà N.T.N vẫn không trả nợ gốc và nợ lãi cho ông N.T.V. Do đó, ông N.T.V khởi kiện yêu cầu buộc ông T.Đ.T và bà N.T.N phải liên đới trả cho ông N.T.V nợ gốc là 620.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 29/12/2019 đến ngày 22/02/2020 là 50.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền yêu cầu là 670.000.000 đồng. Đối với tiền lãi từ ngày 23/02/2020 đến nay thì nguyên đơn không yêu cầu.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của ông N.T.V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc đòi bị đơn phải thanh toán số tiền gốc là 620.000.000 đồng; tự nguyện rút yêu cầu khởi kiện đối với khoản tiền lãi từ ngày 29/12/2019 đến ngày 22/02/2020 là 50.000.000 đồng, không yêu cầu bị đơn thanh toán khoản tiền lãi từ ngày 23/02/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông T.Đ.T trình bày: Trong năm 2019, ông N.T.V có đưa tiền cho ông T.Đ.T vay nhiều lần để mua phế liệu giúp ông T.Đ.T làm ăn kinh tế, do làm ăn thua lỗ nên ông T.Đ.T không tiếp tục làm và đồng ý trả cho ông N.T.V số tiền đã nhận vay là 620.000.000 đồng. Do đó, ngày 29/12/2019, ông T.Đ.T và bà N.T.N viết giấy nhận nợ cho ông N.T.V. Thực chất, trong số tiền 620.000.000 đồng chỉ có một mình ông T.Đ.T nhận của ông N.T.V còn mẹ ông T.Đ.T là bà N.T.N không nhận. Nay do khó khăn về kinh tế nên ông T.Đ.T đồng ý trả toàn bộ số tiền 620.000.000 đồng cho ông N.T.V nhưng xin trả làm 01 lần trong thời gian 04 tháng. Việc ký giấy nhận nợ ngày 29/12/2019 là do ông N.T.V và người nhà ông N.T.V bắt ép nên mẹ ông T.Đ.T là bà N.T.N phải ký tên chứ thực chất bà N.T.N không vay hay nhận tiền của ông N.T.V.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà N.T.N trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông T.Đ.T, ông T.Đ.T có vay tiền của ông N.T.V làm ăn mua bán phế liệu, do thua lỗ nên chưa thanh toán cho ông N.T.V, bà N.T.N không hề vay tiền của ông N.T.V nên không đồng ý trả. Việc ký giấy nhận nợ ngày 29/12/2019 là do ông N.T.V và người nhà ông N.T.V bắt ép nên bà ký.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông T.Đ.T và bà T.T.K.H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.
[2] Về nội dung: Căn cứ Văn bản ngày 29/12/2019 và lời thừa nhận của các bên đương sự, có cơ sở xác định ông T.Đ.T đã nhiều lần vay tiền của ông N.T.V để kinh doanh với tổng số tiền vay là 620.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử buộc ông T.Đ.T phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho ông N.T.V số tiền 620.000.000 đồng là có căn cứ và đúng pháp luật. Ông T.Đ.T không kháng cáo bản án sơ thẩm.
[2.2] Xét nghĩa vụ liên đới của bà N.T.N thì thấy rằng, trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn và người đại diện của mình đã xác nhận người vay tiền và nhận tiền trực tiếp từ ông N.T.V là ông T.Đ.T. Bà N.T.N không phải là người vay tiền và nhận tiền vay. Tuy nhiên, theo Biên bản phiên tòa ngày 05/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện U có thể hiện một số lời khai của bà N.T.N như sau: “Nay con tôi đồng ý trả nợ cho ông N.T.V thì tôi cũng đồng ý liên đới cùng con tôi trả nợ số tiền gốc 620 triệu đồng theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì thực chất con tôi không có tiền, tôi là mẹ cũng có trách nhiệm cùng con do làm ăn thất bại.”; “Tôi đồng ý cùng con tôi trả nợ gốc 620 triệu đồng cho ông N.T.V”.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2, Điều 3 và Điều 275 Bộ luật Dân sự 2015; Áp dụng khoản 3 Điều 296; khoản 2 Điều 308, Điều 309 và 313 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà N.T.N. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2020/DS-ST ngày 05/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh Bình Dương như sau:
- Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi 50.000.000 đồng từ ngày 29/12/2019 đến ngày 22/02/2020.
- Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc không yêu cầu bị đơn thanh toán khoản tiền lãi từ ngày 23/02/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm (05/8/2020).
- Buộc ông T.Đ.T và bà N.T.N có trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông N.T.V số tiền 620.000.000 đồng.
- Về án phí: Ông T.Đ.T và bà N.T.N phải chịu án phí sơ thẩm 28.800.000 đồng. Bà N.T.N phải chịu án phí phúc thẩm 300.000 đồng.
|
Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND tỉnh Bình Dương; - TAND huyện U; - Chi cục THADS huyện U; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa DS, tổ HCTP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Công Lực |
Bản án số 55/2021/DS-PT ngày 17/03/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 55/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: KHông chấp nhận kháng cáo giữa nguyên bản án sơ thẩm
