Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 5497/2024/DS-ST

Ngày: 10-12-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng

Tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Tâm

2. Ông Trần Đăng Vạn

Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Hải Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Lê Quang Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 960/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 8758/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 9436/2024/QĐST-DS ngày 15/11/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N;

Địa chỉ: số B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng H; Chức vụ: Giám đốc A Chi nhánh Đ1 – Phòng G.

Địa chỉ liên lạc: 05 L, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).

(Văn bản ủy quyền ngày 29/3/2024).

Bị đơn: Bà Trần Thụy Kim P, sinh năm 1987;

Địa chỉ: 9 Tỉnh Lộ 10, khu phố H, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Phạm Thị V, sinh năm 1950;

Địa chỉ: 3, Đường D, Tổ A, Khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp ngày 29/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng H trình bày:

Ngày 28/4/2020, bà Trần Thụy Kim P đã vay vốn tại Ngân hàng N (A)- Chi nhánh Đ1- Phòng G (viết tắt Ngân hàng) theo Hợp đồng tín dụng số: 6280-LAV-202000626. Chi tiết khoản vay như sau: Phương thức cho vay: Từng lần; Mục đích sử dụng vốn vay: Bù đắp tài chính tiền mua đất ở Thời hạn cho vay: Đến ngày 29/4/2040Lãi suất cho vay: Theo quy định của A; Phương thức trả lãi: vào ngày 29 hàng thángPhương thức trả gốc: Theo định kỳ hạn vào ngày 29 hàng tháng với số tiền 7.900.000đ, kỳ cuối trả dứt Tài sản đảm bảo tiền vay: Cho vay có tài sản đảm bảo 100%.

Tài sản thế chấp của hợp đồng vay trên là: Thửa đất số 856 tờ bản đồ 36, diện tích 1000 m², địa chỉ: xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CM 384080, số vào sổ cấp GCN: CH 01050 do Ủy ban huyệnCần Giờ cấp ngày 01/08/2018, đăng ký cập nhập chủ sở hữu ngày 24/10/2019bà Phạm Thị V theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo cho nghĩa vụ của người khác số 6280-LCP-2020 00623 ngày 28/4/2020 được Văn Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 28/04/2020 được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 28/04/2020

Quá trình thực hiện hợp đồng bà Trần Thụy Kim P đã thanh toán cho ngân hàng đến ngày 14/4/2023 số tiền nợ gốc, lãi 763.527.209 (Gốc: 273.900.000 đồng; tiền lãi 489.627.209 đồng ). Do bà Trần Thụy Kim P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng từ ngày 29/3/2023 nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Kim P1 thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi của hợp đồng tín dụng số: 6280-LAV-202000626 tính đến ngày 10/12/2024 là 1.950.765.600 đồng, trong đó nợ gốc 1.626.100.000 đồng, nợ lãi trong hạn 291.495.460 đồng, lãi quá hạn là 6.698.953 đồng, phí lãi chậm trả: 26.471.187 đồng.

Trường hợp bà Trần Thụy Kim P không trả được nợ hoặc trả không đủ thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền cho phát mãi tài sản thế chấp là: Thửa đất số 856 tờ bản đồ 36, diện tích 1000 m², địa chỉ: xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CM 384080, số vào sổ cấp GCN: CH 01050 do Ủy ban huyệnCần Giờ cấp ngày 01/08/2018, đăng ký cập nhập chủ sở hữu ngày 24/10/2019tên bà Phạm Thị V để thu hồi nợ. Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Trần Thụy Kim P vẫn phải có nghĩa vụ trả tiếp cho đến khi thanh toán hết khoản nợ trên.

Bị đơn bà Trần Thụy Kim P: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập cho bị đơn và người đại diện theo pháp luật của bị đơn đến Tòa án để trình bày lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải được.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị V: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập cho bị đơn và người đại diện theo pháp luật của bị đơn đến Tòa án để trình bày lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và có bản tự khai, vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bà Trần Thụy Kim P thanh toán một lần cho Ngân hàng tổng số tiền vay còn nợ tính đến ngày 10/12/2024 là 1.950.765.600 đồng, trong đó nợ gốc 1.626.100.000 đồng, nợ lãi trong hạn 291.495.460 đồng, lãi quá hạn là 6.698.953 đồng, phí lãi chậm trả: 26.471.187 đồng.

Trường hợp bà Trần Thụy Kim P không trả được nợ hoặc trả không đủ thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền cho phát mại tài sản thế chấp là: Thửa đất số 856 tờ bản đồ 36, diện tích 1000 m², địa chỉ: xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CM 384080, số vào sổ cấp GCN: CH 01050 do Ủy ban huyệnCần Giờ cấp ngày 01/08/2018, đăng ký cập nhập chủ sở hữu ngày 24/10/2019tên bà Phạm Thị V để thu hồi nợ. Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Trần Thụy Kim P vẫn phải có nghĩa vụ trả tiếp cho đến khi thanh toán hết khoản nợ trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến:

  • + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Thẩm phán vi phạm thời hạn đưa vụ án ra xét xử.
  • + Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự, người đại diện ủy quyền có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, văn bản ủy quyền đúng quy định pháp luật.
  • + Về giải quyết nội dung vụ kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhập yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Trần Thụy Kim P thanh toán một lần cho Ngân hàng tổng số tiền vay còn nợ tính đến ngày 10/12/2024 là 1.950.765.600 đồng, trong đó nợ gốc 1.626.100.000 đồng, nợ lãi trong hạn 291.495.460 đồng, lãi quá hạn là 6.698.953 đồng, phí lãi chậm trả: 26.471.187 đồng. Trường hợp bà Trần Thụy Kim P không trả được nợ hoặc trả không đủ thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền cho phát mại tài sản thế chấp là: Thửa đất số 856 tờ bản đồ 36, diện tích 1000 m2, địa chỉ: xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CM 384080, số vào sổ cấp GCN: CH 01050 do Ủy ban huyện Cần Giờ cấp ngày 01/08/2018, đăng ký cập nhập chủ sở hữu ngày 24/10/2019tên bà Phạm Thị V để thu hồi nợ.

Bà Trần Thụy Kim P phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu bà Trần Thụy Kim P; địa chỉ: 9 Tỉnh Lộ 10, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh trả số tiền đã vay theo hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202000626 ngày 28/4/2020 nên đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202000626 ngày 28/4/2020 được ký tại Ngân hàng N – Chi nhánh Đ1-Phòng G; địa chỉ: A đường N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật dân sự năm 2015 nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi thực hiện hợp đồng để giải quyết như vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Về thủ tục tố tụng:

    Bị đơn bà Trần Thụy Kim P và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà P và bà V theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

  3. Về yêu cầu của nguyên đơn:
    1. Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202000626 ngày 28/4/2020 và phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ được ký giữa Ngân hàng N và bà Trần Thụy Kim P thì quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng N và bà Trần Thụy Kim P là có thật và hợp pháp.

      Quá trình thực hiện Hợp đồng bà Trần Thụy Kim P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 763.527.209 (Gốc: 273.900.000 đồng; tiền lãi 489.627.209 đồng ). Đến ngày 29/3/2023, bà Trần Thụy Kim P không thanh toán bất cứ khoản tiền nào cho ngân hàng, bà Trần Thụy Kim P vi phạm nội dung thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký, không thanh toán nợ lãi cho Ngân hàng bất kỳ khoản nào dù đã đôn đốc và nhắc nhở nhiều. Vì vậy, kể ngày 29/3/2023 Ngân hàng đã chấm dứt hợp đồng trước hạn và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Do bà Trần Thụy Kim P vi phạm thỏa thuận với Ngân hàng, không trả nợ đúng hạn nên Ngân hàng yêu cầu bà P thanh toán toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 10/12/2024 tổng số tiền gốc và lãi là: 1.950.765.600 đồng (trong đó nợ gốc 1.626.100.000 đồng, nợ lãi trong hạn 291.495.460 đồng, lãi quá hạn là 6.698.953 đồng, phí lãi chậm trả: 26.471.187 đồng).

      Xét thấy, hình thức và nội dung thoả thuận của các bên tại hợp đồng tín dụng và phụ lục hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

      Ngoài ra, Khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn “Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự 2005 để xác định lãi, lãi suất”.

      Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N buộc bà Trần Thụy Kim P phải thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 10/12/2024 là: 1.950.765.600 đồng (trong đó nợ gốc 1.626.100.000 đồng, nợ lãi trong hạn 291.495.460 đồng, lãi quá hạn là 6.698.953 đồng, phí lãi chậm trả: 26.471.187 đồng).

    2. Về yêu cầu trả lãi của nguyên đơn:

      Theo Điều 2 của Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202000626 ngày 28/4/2020 đã ký giữa Ngân hàng N và bà Trần Thụy Kim P có nội dung: “………mức lãi suất là 9.5%/năm; lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn; lãi chậm trả 0%/năm....".

      Xét việc tính lãi trong hạn và quá hạn tính đến ngày 10/12/2024 của Ngân hàng đối với hợp đồng tín dụng bà Trần Thụy Kim P là chính xác và đúng quy định pháp luật. Do đó, bà Trần Thụy Kim P phải trả khoản lãi trong hạn tính đến ngày 10/12/2024 là 291.495.460 đồng và nợ lãi quá hạn tính đến ngày 10/12/2024 là 6.698.953 đồng, lãi chậm trả 26.471.187 đồng cho Ngân hàng.

      Căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự; các Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng N, buộc bà Trần Thụy Kim P thanh toán một lần số tiền nợ tính đến ngày 10/12/2024 là 1.950.765.600 đồng trong đó nợ gốc 1.626.100.000 đồng, nợ lãi trong hạn 291.495.460 đồng, lãi quá hạn là 6.698.953 đồng, phí lãi chậm trả: 26.471.187 đồng ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

    3. Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bà Trần Thụy Kim P không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ.

      Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo cho nghĩa vụ của người khác số 6280-LCP-202000623 ngày 28/4/2020, số công chứng 004040, quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/4/2020 tại Văn phòng C, đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 28/4/2020 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì thửa đất số 856, tờ bản đồ số 36; số phát hành CM 384080 số vào sổ cấp GCN CH01050; địa chỉ: xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 01/8/2018, cập nhật sang tên cho bà Phạm Thị V ngày 24/10/2019. Bà V đã thế chấp tài sản trên cho Ngân hàng N- Chi nhánh Đ1 để đảm bảo khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202000626 ngày 28/4/2020 cho bà Trần Thụy Kim P. Trường hợp bà Trần Thụy Kim P không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng yêu cầu phát mại tài sản thế chấp nêu trên.

      Xét, tài sản thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 117, 118, 119, 292, 295, 298, 318, 320, 322 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng nên có giá trị đảm bảo cho việc thanh toán nợ cho bà Trần Thụy Kim P theo hợp đồng tín dụng và phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ. Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp nêu trên phù hợp với quy định tại khoản 7 Điều 323, Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ.

  4. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nên bị đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng mà nguyên đơn đã nộp theo Thông báo thu tiền tạm ứng chi phí tố tụng số 5283/2024/TB-TA ngày 11/7/2024.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 70.522.968 đồng.

    H1 lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ Điều 317, Điều 322, Điều 323, Điều 357, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QHQ3 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N đối với bị đơn bà Trần Thụy Kim P.

    Buộc bà Trần Thụy Kim P có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N tổng số tiền vay còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202000626 ngày 28/4/2020 tính đến ngày 10/12/2024 là 1.950.765.600 đồng trong đó nợ gốc 1.626.100.000 đồng, nợ lãi trong hạn 291.495.460 đồng, lãi quá hạn là 6.698.953 đồng, phí lãi chậm trả: 26.471.187 đồng.

    Phương thức và thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày 11/12/2024, bà Trần Thụy Kim P còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng 6280-LAV-202000626 ngày 28/4/2020 và phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này cho Ngân hàng N.

    Trường hợp bà Trần Thụy Kim P không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số nợ trên cho Ngân hàng N thì tài sản đã thế chấp là: Thửa đất số 856 tờ bản đồ 36, diện tích 1000 m², địa chỉ: xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: CM 384080, số vào sổ cấp GCN: CH 01050 do Ủy ban huyện Cần Giờ cấp ngày 01/08/2018, đăng ký cập nhập chủ sở hữu ngày 24/10/2019tên bà Phạm Thị V được xử lý theo quy định pháp luật.

    Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Trần Thụy Kim P vẫn phải có nghĩa vụ trả tiếp cho đến khi thanh toán hết khoản nợ trên.

    Khi bà Trần Thụy Kim P thanh toán xong số nợ trên cho Ngân hàng N thì Ngân hàng N có trách nhiệm trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số bìa CM384080 số vào sổ cấp GCN:CH 01050 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 01/8/2018, đăng ký cập nhật chủ sở hữu ngày 24/10/2019 thuộc quyền sử dụng của bà Phạm Thị V.

    Bà Trần Thụy Kim P có trách nhiệm thanh toán lại cho Ngân hàng N số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 (mười triệu) đồng theo Thông báo thu tiền tạm ứng chi phí tố tụng số 5283/2024/TB-TA ngày 11/7/2024.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm: 70.522.968 đồng bà Trần Thụy Kim P phải chịu và nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Ngân hàng N không phải chịu án phí, hoàn lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 33.215.097 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026701 ngày 03/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Trần Đăng Vạn

Phạm Văn Tâm

Phan Thị Tâm

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Thủ Đức;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 5497/2024/DS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 5497/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng Tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng NN - Phụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger