Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 549/2023/HS-ST

Ngày: 29 - 12 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Gái.
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 530/2023/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 584/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Phạm Công D, sinh năm: 1993, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 3 V, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 751/10 K, Khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Bốc vác; con ông Phạm Công B, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Thùy N, sinh năm 1967; bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 02 anh em; vợ: Không rõ và có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 28/6/2012, Toà án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, thời gian thử thách là 34 tháng, theo Bản án số 206/2012/HSST. Chấp hành xong hình phạt và đã thi hành án phí hình sự sơ thẩm.
  • Ngày 29/11/2018, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo Bản án số 555/2018/HS-PT. Chấp hành xong hình phạt tù và đã thi hành án phí hình sự sơ thẩm, phúc thẩm.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 07/4/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Anh Phạm Huỳnh Nam K, sinh năm 1997. Địa chỉ: H, Đường A, Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
  2. Công ty TNHH T3. Trụ sở: Số A N, phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1987. Địa chỉ: F L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 28/3/2023), vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Phạm Văn N1, sinh năm 1965. Địa chỉ: H Đường A, Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
  2. Chị Bùi Thị Dạ H, sinh năm 1990. Địa chỉ: B Bis L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
  3. Anh Nguyễn Đức H1, sinh 1988. Địa chỉ: C C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Tuấn A.

Địa chỉ: Nhà không số, Đường A, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài nên Phạm Công D nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài. Từ ngày 22/12/2022 đến ngày 06/4/2023, trên địa bàn thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Phạm Công D đã thực hiện 02 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 22/12/2022, khi Phạm Công D đang chơi tại nhà anh Nguyễn Tuấn A, địa chỉ: Nhà không số, Đường A, Khu phố A, phường B, thành phố T thì có bạn của anh Tuấn A là Phạm Huỳnh Nam K điều khiển xe mô tô Honda AirBlade biển số 54Z8 – 8771 đến chơi. D nảy sinh ý định lấy xe anh K để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. D nói dối với anh Tuấn A và anh KD mượn xe để đi mua đồ ăn và sửa điện thoại, anh K đồng ý rồi giao xe cho D. Mượn xe xong, D lên mạng xã hội Facebook đăng bán xe của anh K thì có tài khoản Facebook tên “Nguyen Manh C” hỏi mua xe với giá 5.000.000 đồng, D đồng ý. Cả hai hẹn giao xe tại ngã tư P và P thuộc quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. D điều khiển xe đến chỗ hẹn rồi giao xe cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) và lấy tiền, sau đó đón xe ôm về nhà. Lúc này, anh Tuấn A mới gọi điện thoại kêu D trả xe để K đi về thì D nói đi công việc nên về trễ, sau đó D khóa điện thoại không liên lạc được.

Kết quả định giá tài sản số 95-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 14/3/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen, biển số 54Z8-8771 có trị giá 15.300.000 đồng.

Vật chứng của vụ án:

  • 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen, biển số 54Z8-8771. Qua xác minh, chủ sở hữu là ông Phạm Văn N1. Ông N1 giao xe trên cho con ruột là Phạm Huỳnh Nam K sử dụng, làm phương tiện đi lại (không thu hồi được).

Vụ thứ hai: Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 06/4/2023, Phạm Công D vào mạng xã hội Facebook giả vờ mua sữa nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. D dùng tài khoản mạng xã hội Facebook “Mộng Trà” vào group “Đại lý sữa” thì thấy tin đăng bán sữa có hình hộp sữa Abbott Glucerra Vanilla 850g kèm thông tin liên hệ là zalo “Ti Tvv Việt Nam” có số điện thoại “0777.215.xxx” của chị Bùi Thị Dạ H (là nhân viên Công ty trách nhiệm hữu hạT3 (TNHH ) thương mại và dịch vụ T4). Sau đó, D dùng tài khoản mạng xã hội Zalo “Anh Ba B1” kết bạn với tài khoản zalo trên rồi nhắn tin với nội dung muốn mua 7 thùng sữa hộp (loại 1 thùng có 06 hộp) hiệu Abbott Glucerra Vanilla loại 850g/hộp. Chị H báo giá là 27.300.000 đồng (650.000 đồng /hộp). D đồng ý và cho thông tin người nhận là “anh N2” (số điện thoại 0932.829.xxx, địa chỉ: Số B V, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh). Chị H đồng ý và yêu cầu D chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng T5 “19032665535029”, chủ tài khoản Nguyễn Đức H1 khi nhận hàng vì Công ty không nhận thanh toán bằng tiền mặt. Sau đó, D vào mạng xã hội Facebook tìm hội “Làm giả Bill chuyển khoản”, liên hệ với một tài khoản Facebook tên “Nguyễn T1” đặt làm Bill giả với giá 300.000 đồng. D trả tiền bằng hình thức mua thẻ cào rồi nạp tiền vào số điện thoại do “Nguyễn T1” đưa (D không nhớ số điện thoại). Khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, chị H cho tài xế là anh Nguyễn Đức H1 chở 07 thùng sữa có đặc điểm như trên giao cho D. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, anh H1 giao hàng tới địa chỉ D cung cấp thì D yêu cầu giao qua địa chỉ mới là 44 L, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cùng lúc này, D điều khiển xe mô tô hiệu Sayota biển số 67N5-7149 chạy đến địa chỉ trên. Tại đây, D gọi cho “Nguyễn T1” (không rõ nhân thân, lai lịch) nói T1 gửi ảnh lệnh chuyển tiền đã đặt làm qua tài khoản zalo “Anh Ba B1”. Tiếp đó, D đưa ảnh lệnh chuyển tiền cho anh H1 xem. Anh H1 xem xong, đứng chờ khoảng 10 phút cũng chưa thấy tiền vào tài khoản, nghi ngờ lệnh chuyển tiền trên là giả nên báo về Công ty và giữ D lại trình báo Công an phường L, thành phố T xử lý.

Kết luận định giá tài sản số 166-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 05/5/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 42 hộp sữa hiệu Abbott Glucerna Vanilla loại 850g/hộp trị giá là 27.720.000 đồng.

Vật chứng của vụ án:

  • 42 hộp sữa hiệu A1 loại 850g/hộp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại tài sản trên cho chị Nguyễn Thị Thu T là đại diện pháp luật của Công ty TNHH T3.
  • 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh nhạt của chị Bùi Thị Dạ H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại điện thoại di động trên cho chị H.
  • 01 xe mô tô hiệu Sayota biển số 67N5-7149 số khung: RMNWCHFMN7H000901, số máy: VHLFM152FMHV240901. Qua xác minh, chủ sở hữu là anh Huỳnh Văn T2, anh T2 khai đã bán xe mô tô trên cho một người đàn ông ở xã P, huyện P, tỉnh An Giang (không rõ lai lịch, địa chỉ). Phạm Công D khai mua xe mô tô trên từ một người đàn ông (không rõ lai lịch) buôn bán tại chợ Đ, Thành phố Hồ Chí Minh, khi mua không làm thủ tục sang tên.
  • 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh đậm của Phạm Công D.
  • 18 tờ A4 in hình ảnh vụ việc (lưu theo hồ sơ).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Phạm Công D đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Về trách nhiệm dân sự:

  • Chị Nguyễn Thị Thu T là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T3 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
  • Anh Phạm Huỳnh Nam K và ông Phạm Văn N1 yêu cầu bồi thường 20.000.000 đồng giá trị xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen, biển số 54Z8-8771 (tài sản không thu hồi được).

Cáo trạng số: 427/CT-VKS ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Phạm Công D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Công D từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/4/2023.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với kết luận định giá, cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, rất hối hận về hành vi của mình. Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 22/12/2022, tại địa chỉ Nhà không số, Đường A, Khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Phạm Công D đã thực hiện thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen, biển số 54Z8-8771 trị giá 15.300.000 đồng của anh Phạm Huỳnh Nam K. Tiếp tục, vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 06/4/2023 tại địa chỉ Số D, đường L, Khu phố C, phường L, T phố H, D dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt 42 hộp sữa hiệu Abbott Glucerna Vanilla loại 850g/hộp trị giá là 27.720.000 đồng của Công ty TNHH T3. Tổng giá trị tài sản mà D chiếm đoạt là 43.020.000 đồng. Sau đó thì bị phát hiện, bắt giữ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng lười lao động lại muốn có tiền tiêu xài nên đã cố ý dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị 43.020.000 đồng. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 43.020.000 đồng nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, đã 02 lần bị kết án về tội phạm liên quan đến ma túy. Bên cạnh đó, bị cáo không có việc làm, không có nơi cư trú ổn định nên cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 20.000.000 đồng là giá trị chiếc xe bị cáo chiếm đoạt mà anh Phạm Huỳnh Nam K yêu cầu nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 42 hộp sữa hiệu Abbott Glucerna Vanilla loại 850g/hộp: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại tài sản trên cho chị Nguyễn Thị Thu T là đại diện pháp luật của Công ty T3 là có căn cứ.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh nhạt của chị Bùi Thị Dạ H: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho chị H là có căn cứ.
  • Đối với 01 xe mô tô hiệu Sayota biển số 67N5-7149 số khung: RMNWCHFMN7H000901, số máy: VHLFM152FMHV240901. Qua xác minh, chủ sở hữu là anh Huỳnh Văn T2, anh T2 khai đã bán xe mô tô trên cho một người đàn ông ở xã P, huyện P, tỉnh An Giang (không rõ lai lịch, địa chỉ). Phạm Công D khai mua xe mô tô trên từ một người đàn ông (không rõ lai lịch) buôn bán tại chợ Đ, Thành phố Hồ Chí Minh, khi mua không làm thủ tục sang tên: Xét đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh đậm là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Đối với 18 tờ A4 in hình ảnh vụ việc là tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Công D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
    Xử phạt bị cáo Phạm Công D: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/4/2023.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015,
    Buộc bị cáo bồi thường cho anh Phạm Huỳnh Nam K số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

    - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

    • 01 xe mô tô hiệu Sayota biển số 67N5-7149 số khung: RMNWCHFMN7H000901, số máy: VHLFM152FMHV240901.
    • 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh đậm.

    (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 183/QĐ-VKSTPTĐ ngày 27/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho số NK23/281C ngày 01/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

  5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    - Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 (một triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

    - Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    - Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • Bị cáo;
  • Người tham gia tố tụng;
  • Công an thành phố Thủ Đức;
  • Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • Thi hành án hình sự;
  • Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 549/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 549/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Công D phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger