Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 549/2024/DS-PT

Ngày: 19 - 7 - 2024

V/v “Tranh chấp tài sản chung và thừa kế tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Yên

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Minh

Bà Hồ Thị Thanh Thúy

Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thu Phương - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hoa- Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 153/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp tài sản chung và thừa kế tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 913/2024/QĐPT-HC ngày 24 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1937; địa chỉ: số A, đường P, phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 2000; địa chỉ thường trú: thôn Đ, T, xã K, huyện T, Thành phố Hải Phòng;

    Địa chỉ liên hệ: Văn phòng 5B, tòa nhà S, 167 -169, Đ, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Ủy quyền lại cho bà Trần Thị Anh T, sinh năm 2000; địa chỉ thường trú: ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Long An; địa chỉ liên hệ: căn 6.53, tầng 6, tòa nhà R, 151 – 155, B, Phường F, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Hoàng S1 – Luật sư của Văn phòng L4 và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.

  2. Bị đơn: Bà Trịnh Nguyễn Thu D, sinh năm 1969; địa chỉ thường trú: số A, đường P, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh địa chỉ tạm trú: số B, ấp A, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Đậu Văn L, sinh năm 1972; địa chỉ: ấp T, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương, có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Bà Lê Thị Diệu H, sinh năm 1961; địa chỉ: số C, đường N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    2. Bà Lê Thị Bạch L1, sinh năm 1969; địa chỉ: tổ A, khu phố C, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

      Người đại diện hợp pháp của bà H, bà L1: Ông Nguyễn Hà Tuấn T1, sinh năm 1998; địa chỉ thường trú: tổ I, khu phố A, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; địa chỉ liên hệ: căn 6.53, tầng F, Tòa nhà R, 151 – 155, B, Phường F, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

    3. Bà Lê Thị Diệu L2, sinh năm 1963; quốc tịch: Việt Nam; địa chỉ: số H Stone C, thành phố R, bang U, Hoa Kỳ. Yêu cầu giải quyết vắng mặt.

    4. Bà Lê Thị Thu H1, sinh năm 1993; có mặt.

    5. Bà Lê Thị Thu N, sinh năm 2000; có mặt.

      Cùng địa chỉ thường trú: số A, đường P, phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ tạm trú: số B, ấp A, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

    6. Bà Lê Thu Ngọc H2, sinh năm 1986; vắng mặt.

    7. Ông Lê Hoàn Thanh P, sinh năm 1993; vắng mặt.

      Cùng địa chỉ: số C, đường N, tổ H, khu phố C, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    8. Ông Lê Hoài T2, sinh năm 1992; địa chỉ: số A, cư xá P, tổ D, khu phố D, phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. vắng mặt.

    9. Ông Trần Lê Thành T3, sinh năm 2005; địa chỉ: tổ A, khu phố C, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

    Người kháng cáo: nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc S, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Diệu H, bà Lê Thị Bạch Lê

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 05/01/2022 (nộp Tòa án ngày 03/10/2022), lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

Hộ gia đình bà Nguyễn Ngọc S nhận thừa kế từ ông Lê Văn P1 (cha chồng của bà S) diện tích đất 1.074,6m², thuộc thửa số 222, tờ bản đồ số 49, tọa lạc tại xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (viết tắt GCNQSDĐ) số CB 076714, số vào sổ CS04576 ngày 03/12/2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho hộ bà Nguyễn Ngọc S. Thời điểm cấp giấy chứng nhận, hộ gia đình bà S gồm có: Bà S và 04 người con là bà Lê Thị Diệu H, bà Lê Thị Bạch L1, bà Lê Thị Diệu L2, ông Lê Văn Đ (chết 10/8/2018).

Ông Đ có vợ là bà Trịnh Nguyễn Thu D; ông Đ, bà D có 02 người con gồm: bà Lê Thị Thu H1, sinh năm 1993; bà Lê Thị Thu N, sinh năm 2000.

Bà S đã giao cho bà D trông coi, quản lý nhà, đất. Năm 2021, bà D cho rằng nhà đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà D. Bà S có đơn yêu cầu hòa giải tại Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) xã A. Tại buổi hòa giải ngày 22/4/2012 của UBND xã A, bà D có ý kiến chỉ đồng ý trả lại GCNQSDĐ cho bà S với điều kiện bà S phải chia phần đất cho các con của bà D 15m ngang ở vị trí có căn nhà.

Phần của ông Đ trong khối tài sản chung của hộ gia đình là 1.074,6m²/5 = 214,2m². Nay, bà S yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Lê Văn Đ trong phần tài sản chung của hộ gia đình cho các đồng thừa kế của ông Đ theo quy định pháp luật đối với diện tích đất 1.074,6m²/5 = 214,2m² thuộc thửa số 222, tờ bản đồ số 49, tọa lạc tại xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương theo GCNQSDĐ số CB 076714, số vào sổ CS04576 ngày 03/12/2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho hộ bà Nguyễn Ngọc S.

Tài sản trên đất do bà D đầu tư xây dựng, bà S không có tài sản trên đất; bà S không có yêu cầu chia di sản của ông Đ là tài sản có trên đất.

Bị đơn trình bày:

Không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà S, không chấp nhận yêu cầu chia di sản của ông Lê Văn Đ trong phần tài sản chung của hộ gia đình.

Nhà đất tranh chấp do bà S và các con là bà H1, bà N đang quản lý, sử dụng từ năm 1993 đến nay, quá trình sinh sống trên đất vợ chồng bà D đã xây dựng nhà ở, công trình, trồng cây các loại như hiện nay.

Trường hợp Tòa án tiến hành phân chia di sản của ông Đ thì bà D yêu cầu nhận phần đất gắn liền căn nhà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Diệu H, bà Lê Thị Bạch L1, bà Lê Thị Diệu L2, bà Lê Thu Ngọc H2, ông Lê Hoài T2, ông Trần Lê Thành T3 trình bày:

Thống nhất trình bày của nguyên đơn, đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà S.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hoàn Thanh P đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến và vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Thu H1, bà Lê Thị Thu N trình bày:

Thống nhất trình bày của bị đơn, không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà S.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DSST ngày 05-01-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định:

- Căn cứ khoản 5, khoản 9 Điều 26, Điều 34, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 153, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,

- Căn cứ các Điều 212, 213, 650, 651, 652, 658, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015,

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc S về việc tranh chấp tài sản chung và về thừa kế tài sản.

Tài sản chung của bà Nguyễn Ngọc S, bà Lê Thị Diệu H, bà Lê Thị Bạch L1, bà Lê Thị Diệu L2 là quyền sử dụng đất diện tích 773.712m² (có 162m² đất ở nông thôn) thuộc một phần thửa số 222, tờ bản đồ số 49, tọa lạc tại xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

Tài sản chung của ông Lê Văn Đ và bà Trịnh Thị Thu D1 là 10% quyền sử dụng đất diện tích 107,46m² (có 30m² đất ở nông thôn) thuộc một phần thửa số 222, tờ bản đồ số 49, tọa lạc tại xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương và tài sản trên đất, tổng giá trị 592.678.602 đồng (năm trăm chín mươi hai triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn sáu trăm lẻ hai đồng).

Tài sản của bà Trịnh Nguyễn Thu D là 05% quyền sử dụng đất diện tích 53,73m² (có 15m² đất ở nông thôn) thuộc một phần thửa số 222, tờ bản đồ số 49, tọa lạc tại xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương và tài sản trên đất, tổng giá trị 296.339.301 đồng (hai trăm chín mươi sáu triệu ba trăm ba mươi chín nghìn ba trăm lẻ một đồng).

Di sản của ông Lê Văn Đ gồm: quyền sử dụng đất diện tích 193,43m² + công sức quản lý tôn tạo 53,73m² = 247,16m² (trong đó 69m² đất ở; 178,16m² đất trồng cây lâu năm) thuộc một phần thửa số 222, tờ bản đồ số 49, tọa lạc tại xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương, trị giá 545.504.000 đồng và tài sản trên đất, trị giá 177.752.301 đồng, tổng cộng 723.256.301 đồng (bảy trăm hai mươi ba triệu hai trăm năm mươi sáu nghìn ba trăm lẻ một đồng) chia thành 04 phần, các đồng thừa kế của ông Lê Văn Đ mỗi người được hưởng kỷ phần trị giá 180.814.075 đồng (một trăm tám mươi triệu tám trăm mười bốn nghìn không trăm bảy mươi lăm đồng).

Chia di sản của ông Lê Văn Đ theo quy định pháp luật cho các đồng thừa kế (04 đồng thừa kế) của ông Lê Văn Đ gồm: Bà Nguyễn Ngọc S, bà Trịnh Nguyễn Thu D, bà Lê Thị Thu H1, bà Lê Thị Thu N, mỗi đồng thừa kế được hưởng kỷ phần trị giá 180.814.075 đồng (một trăm tám mươi triệu tám trăm mười bốn nghìn không trăm bảy mươi lăm đồng).

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Ngọc S, bà Trịnh Nguyễn Thu D, bà Lê Thị Thu H1, bà Lê Thị Thu N về việc bà Trịnh Nguyễn Thu D, bà Lê Thị Thu H1, bà Lê Thị Thu N yêu cầu nhận kỷ phần bằng tiền, giao kỷ phần của mình được hưởng cho bà Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Ngọc S thanh toán giá trị tài sản cho bà Trịnh Nguyễn Thu D, bà Lê Thị Thu H1, bà Lê Thị Thu N.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Ngọc S, bà Lê Thị Diệu H, bà Lê Thị Bạch L1, thống nhất gộp kỷ phần được hưởng của bà Nguyễn Ngọc S, kỷ phần bà Nguyễn Ngọc S nhận từ bà Trịnh Nguyễn Thu D, bà Lê Thị Thu H1, bà Lê Thị Thu N sau khi bà Nguyễn Ngọc S thanh toán giá trị cho bà Trịnh Nguyễn Thu D, bà Lê Thị Thu H1, bà Lê Thị Thu N, tài sản của bà Trịnh Nguyễn Thu D và phần tài sản chung của bà Nguyễn Ngọc S, bà Lê Thị Diệu H, bà Lê Thị Bạch L1, bà Lê Thị Diệu L2 vào thành tài sản chung của bà Nguyễn Ngọc S, bà Lê Thị Diệu H, bà Lê Thị Bạch L1, bà Lê Thị Diệu L2.

Bà Nguyễn Ngọc S, bà Lê Thị Diệu H, bà Lê Thị Bạch L1, bà Lê Thị Diệu L2 được quyền quản lý sử dụng quyền sử dụng đất diện tích 1.074,6m² (có 774,6m² đất trồng cây lâu năm trong đó có 135,6m² đất hành lang an toàn đường bộ; 300m² đất ở nông thôn) thuộc thửa số 222, tờ bản đồ số 49, tọa lạc tại xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương và tài sản trên đất gồm có: Nhà ở diện tích 93,3m², kết cấu vách gạch, cột gạch, tường tô xi măng sơn nước, nền gạch men, mái tole, cửa sắt; mái che diện tích 23,2m² + 4,7m² + 38,2m² = 66,1m², kết cấu nền xi măng, cột kèo sắt, mái tole; chuồng heo diện tích 15,5m², kết cấu nền xi măng, mái tole, vách gạch + lưới B40; chuồng gà diện tích 08m² kết cấu nền đất, mái tole, vách bằng lưới B40, cột tre + 5,4m², kết cấu nền xi măng, mái tole, vách bằng lưới B40 + gạch xây chưa tô xi măng = 13,4m²; 01 trụ sắt + bồn nước inox 2000 lít hiệu Đại Minh; 01 bồn nước 700 lít; 01 giếng khoan dân dụng; 01 điện kế chính; cây trồng trên đất: 16 cây dừa; 04 cây sầu riêng; 04 cây ổi; 03 cây mít; 03 cây măng cụt; 08 cây cau; 01 bụi cau đỏ (04 cây); 03 bụi chuối (mỗi bụi từ 10 – 13 cây); 02 cây xoài trồng; 01 cây sơ ri ; 01 cây dâu xanh; 08 cây bưởi; 03 cây đu đủ; 08 cây mai; 02 cây cóc; 01 bụi tre khoảng 25 cây; 01 cây phát tài; 01 cây chanh; 01 cây mít tố nữ; hàng rào xung quanh đất diện tích khoảng 200m²; 02 cống thoát nước thải; 01 bàn thiên bằng gạch xây tô xi măng, sơn nước, gạch men cao khoảng 1,4m.

(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

Bà Nguyễn Ngọc S có nghĩa vụ hoàn trả giá trị kỷ phần cho bà Trịnh Nguyễn Thu D, bà Lê Thị Thu H1, bà Lê Thị Thu N, số tiền 542.442.225 đồng (năm trăm bốn mươi hai triệu bốn trăm bốn mươi hai nghìn hai trăm hai mươi lăm đồng, mỗi kỷ phần phải thanh toán 180.814.075 đồng (một trăm tám mươi triệu tám trăm mười bốn nghìn không trăm bảy mươi lăm đồng).

Bà Nguyễn Ngọc S có nghĩa vụ hoàn trả giá trị tài sản cho bà Trịnh Nguyễn Thu D, số tiền 296.339.301 đồng (hai trăm chín mươi sáu triệu ba trăm ba mươi chín nghìn ba trăm lẻ một đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án, có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Sau khi bà Nguyễn Ngọc S thanh toán xong giá trị tài sản cho bà Trịnh Nguyễn Thu D, bà Lê Thị Thu H1, bà Lê Thị Thu N thì bà Trịnh Nguyễn Thu D, bà Lê Thị Thu H1, bà Lê Thị Thu N có trách nhiệm giao đất và tài sản trên đất cho bà Nguyễn Ngọc S, bà Lê Thị Diệu H, bà Lê Thị Bạch L1, bà Lê Thị Diệu L2 theo kỷ phần được chia và được quyền quản lý sử dụng.

Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền về đất đai thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 076714, số vào sổ CS04576 ngày 03/12/2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho hộ bà Nguyễn Ngọc S.

Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký, kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 09-01-2024, đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Bạch L1, bà Lê Thị Diệu H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.

Ngày 10-01-2024, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Trần Thị Anh T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Anh T, đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Bạch L1, bà Lê Thị Diệu H đều giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên bản án số 02/2024/DS-ST ngày 05-01-2024 về việc “Tranh chấp tài sản chung và thừa kế tài sản” của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, tòa diện chứng cứ ý kiến của Viện kiểm sát, của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về hình thức đơn kháng cáo của nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Ngày 10/01/2024, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc S kháng cáo bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Ngày 09/01/2024, đại diện theo ủy quyền của Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan của bà Lê Thị Bạch L1, Lê Thị Diệu H kháng cáo bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

[1] Về thẩm quyền xét xử: Căn cứ Điều 37, 38 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xác định đúng thẩm quyền xét xử.

[2] Về tư cách người tham gia tố tụng: Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 cấp sơ thẩm xác định đúng tư cách người tham tố tụng.

[3] Về quan hệ tranh chấp: Cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ tranh chấp.

[4] Về nội dung: Bà Nguyễn Ngọc S là chủ sử dụng đất số 222, tờ bản đồ số 49, tọa lạc tại xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương với diện tích 1.074,6m² đất (nguồn gốc đất: được thừa kế từ ông Lê Văn P1 cha chồng bà S). Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ bà S gồm có: bà S và 04 người con là Lê Thị Diệu H, Lê Thị Bạch L1, Lê Thị Diệu L2 và ông Lê Văn Đ (chết ngày 10/8/2018). Ông Đ có vợ là bà Trịnh Nguyễn Thu D. Ông Đ bà D có 02 người con gồm: Lê Thị Thu H1, sinh năm 1993, Lê Thị Thu N, sinh năm 2000.

Bà S đã giao cho bà D trông coi, quản lý nhà, đất. Nay bà S khởi kiện yêu cầu bà D chia tài sản thừa kế là quyền sử dụng đất của ông Đ.

Bị đơn bà D có ý kiến chỉ đồng ý trả lại quyền sử dụng đất cho bà S với điều kiện bà S phải chia phần đất cho các con của bà D 15m ngang ở vị trí có căn nhà.

Cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc S với những căn cứ sau:

[1] Xác định hàng thừa kế của ông Lê Văn Đ gồm: Bà Nguyễn Ngọc S, bà Trịnh Nguyễn Thu D, bà Lê Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu N.

[2] Di sản thừa kế gồm: Diện tích đất đang tranh chấp đo đạc thực tế là 1.074,6m² (có 744,6m² đất trồng cây lâu năm trong đó 135,6m² đất hành lang an toàn đường bộ; 300m² đất ở nông thôn) thuộc thửa 222, tờ bản đồ số 49, tọa lạc tại xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Tài sản trên đất gồm: nhà ở diện tích 93,3m² và các loại cây trồng gồm: sầu riêng, dừa, mít, măng cụt, ổi, bưởi, đu đủ... Tổng giá trị tài sản tranh chấp là 2.727.244.620 đồng (trong đó giá trị đất là 2.371.740.000 đồng; giá trị tài sản trên đất 355.504.602 đồng).

Các đương sự thống nhất đất tranh chấp có nguồn gốc của bà S được thừa kế từ cha chồng. Bà S thừa nhận đất là tài sản chung của bà S và các con gồm: H, L1, L2 và Đ.

Xác định tài sản của ông Đ bà D trong tài sản chung là quyền sử dụng đất 1.074,6m²:

Nguyên đơn cho rằng bà sương quản lý đất và vườn cây ăn trái từ năm 1989 đến năm 2000, đóng thuế, làm giấy chứng nhận nên có công gìn giữ đất. Bị đơn cho rằng bà D ông Đ sinh sống trên đất từ năm 2001 đến nay. Tuy nhiên, nguyên đơn không chứng minh được đã có công giữ đất. Thực tế tài sản trên đất là của ông Đ bà D đầu tư xây dựng. Do đó, cấp sơ thẩm xác định ông Đ bà D có công quản lý tôn tạo đất và tính công sức là 10% trong khối tài sản chung tương đương diện tích đất 107,46m² là phù hợp. Như vậy, tài sản chung của bà S, bà H, bà L1, bà L2, ông Đ, sau khi trừ công sức quản lý, tôn tạo cho ông Đ bà D là 967,14m² (1.074,6m 2 – 107,46m²/5). Trong đó phần di sản của ông Đ là 193,428m². Phần tài sản chung còn lại của bà S, bà H, bà L1, bà L2 là 773.712m².

Tài sản trên đất của bà D ông Đ nên bà S không tranh chấp, nếu đất giao cho bà S, bà H, bà L1, bà L2 có tài sản của bà D ông Đ thì họ đồng ý thanh toán lại giá trị cho bà D.

Về chia di sản thừa kế: Ông Đ chết không để lại di chúc cho nên tài sản thừa kế được chia theo pháp luật. Di sản thừa kế của ông Đ là quyền sử dụng đất diện tích 193,43m² + công sức quản lý tôn tạo 53,73m² (1/2 diện tích 107,46m²) = 247,16m² (trong đó 69m² đất ở, 178,16m² đất trồng cây lâu năm) thuộc một phần thửa số 222, tờ bản đồ số 49, tọa lạc tại xã A, thị xã B tỉnh Bình Dương trị giá 545.504.000 đồng, được chia thành 04 phần, các đồng thừa kế của ông Đ mỗi người được hưởng kỷ phần trị giá 136.376.000 đồng.

Đối với tài sản trên đất trị giá 355.504.602 đồng: đây là tài chung của ông Đ bà D trong thời hôn nhân nên ông Đ được 50% trong khối tài sản chung này là 177.752.301 đồng. Phần di sản của ông Đ được chia thành 04 phần, các đồng thừa kế của ông Đ mỗi người được hưởng kỷ phần trị giá 44.438.075 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản của ông Đ mà các đồng thừa kế được hưởng là 180.814.075 đồng/ người (trong đó giá trị đất 136.376.000 đồng và tài sản trên đất 44.438.075 đồng).

Đối với tài sản của bà D gồm 05% giá trị đất 53,73m², tương đương 118.587.000 đồng + 50% giá trị tài sản trên đất, tương đương 177.752.301 đồng, tổng cộng 296.339.301 đồng.

Bị đơn bà D và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà H1 bà N yêu cầu được nhận kỷ phần bằng tiền và giao đất cho bà, tài sản trên đất cho bà S quản lý. Nguyên đơn cũng đồng ý nhận tài sản và thanh toán lại giá trị kỷ phần được hưởng của bà D, bà H1 và bà N.

Đối với tài sản riêng của bà D, bà D yêu cầu được nhận tiền và giao đất và tài sản trên đất cho bà S quản lý sử dụng. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà T đồng ý yêu cầu của bà D.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà T và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà H, bà L1, bà L2 đồng ý gộp kỷ phần được hưởng của bà S, kỷ phần bà S nhận từ bà D, bà H1 và bà N sau khi thanh toán giá trị cho họ, phần tài sản của bà D và phần tài sản chung của bà S bà H bà Lê bà L3 vào thành tài sản chung của bà S, bà H bà Lê bà L3 nên được chấp nhận.

[5] Nhận định của Tòa án: Xét thấy, cấp sơ thẩm đã xét xử phù hợp theo quy định của pháp luật nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (H, L1).

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc S, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Diệu H, bà Lê Thị Bạch L1 là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6]. Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận bà Nguyễn Ngọc S, bà Lê Thị Diệu H, bà Lê Thị Bạch L1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên bà S thuộc trường hợp người cáo tuôi nên được miễn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ nghị nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc S;

    Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Lê Thị Diệu H và Lê Bạch Lê .

    Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 05 /01/2024 về việc “Tranh chấp tài sản chung và về thừa kế tài sản” của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bà Lê Thị Diệu H và bà Lê Thị Bạch L1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ theo biên lai thu số 0000053 ngày 18-01-2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương (do ông Nguyễn Hà Tuấn T1 nộp).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND CC tại TP Hồ Chí Minh;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Bình Dương;
  • - Các đương sự (11);
  • - Lưu (VP 05, HS 01) (DTTP 23b)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Yên

Các thẩm phán

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Minh

Hồ Thị Thanh Thúy

Phan Văn Yên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 549/2024/DS-PT ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp tài sản chung và thừa kế tài sản

  • Số bản án: 549/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản chung và thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc S; Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Lê Thị Diệu H và Lê Bạch Lê . Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger