|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 549/2024/DS-PT Ngày: 13-9-2024 “V/v tranh chấp dân sự- hợp đồng mua bán” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Thông;
Bà Nguyễn Thị Võ Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Võ Thị Trang- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 06/9 và ngày 13/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 285/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp dân sự-.mua bán tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2024/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 480/2024/QĐ-PT ngày 23/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đinh Văn G, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Tổ B, ấp H, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, chị Phan Thị Đoan T, sinh năm 1979. Địa chỉ: D P, phường C, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Trang Sỉ X, Công ty L1. Địa chỉ: số H N, phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Võ Thị O, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Khóm B, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết T1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số F, tổ A, Ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lê Thị T2, sinh năm 1986.
- Chị Võ Thị Mỹ C, sinh năm 1982.
- Ông Võ Văn L, sinh năm 1962.
- Anh Võ Thanh N, sinh năm 1997.
- Chị Võ Thị Ngọc Y, sinh năm 2002.
Địa chỉ: Tổ B, ấp H, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ: C T, khóm M, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Khóm B, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Bà Võ Thị O là bị đơn.
- Viện kiểm sát không kháng nghị.
(Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa; bị đơn vắng mặt khi tuyên án)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/03/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Đinh Văn G uỷ quyền cho chị Phan Thị Đoan T trình bày: Theo lời ông Đinh Văn G trình bày: Bà Võ Thị O là một chủ vựa mua tôm thịt của anh nhiều năm liền. Giữa anh và bà O mua bán tôm với nhau dựa vào sự tin tưởng và uy tín, nên việc giao nhận hàng đã thành thói quen nên giữa anh và bà O không giao kết hợp đồng cụ thể mà chỉ dựa trên biên lai bán lẻ trao cho nhau và xác nhận rồi chuyển tiền mua bán mỗi khi giao nhận hàng, cụ thể hình thức giao nhận là: Mỗi khi anh giao hàng thì có viết hoá đơn bán lẻ giao cho bà O khi nhận hàng. Khi đó bà O sẽ kiểm tra số liệu đối chiếu thực tế và ghi bút tích mặt sau hoá đơn trả ngược lại anh và chuyển tiền trả qua tài khoản Ngân hàng hoặc đưa tiền mặt (nếu trả tiền mua ngay chuyến hàng đó). Ngược lại, nếu bà O thiếu thì vài ngày sau hoặc chuyến hàng tiếp theo sẽ thanh toán và chuyển trả biên lai. Việc thanh toán tiền mua tôm cho anh có chuyến hàng bà Võ Thị Mỹ C là em ruột bà O trực tiếp chuyển trả và giao tiền mặt. Việc bán tôm của anh cho bà O thành thói quen kéo dài từ năm 2018 đến tháng 02 năm 2023 thì anh chủ động chấm dứt làm ăn với bà O vì bà O có nhiều vi phạm trong thanh toán tiền mua tôm của anh.
Kể từ ngày 09/02/2023 anh ngưng bán tôm cho bà O đến nay, anh đã nhiều lần liên hệ qua điện thoại và gặp trực tiếp bà O để đề nghị bà trả số tiền nợ còn thiếu là 2.221.000.000₫ (Hai tỷ hai trăm hai mươi một triệu đồng) cho anh nhưng bà O cố tình trì hoãn và bất hợp tác, chây ì, tìm mọi lý do để không trả số tiền nợ cho anh. Việc bà O không trả nợ cho anh đã gây cho gia đình anh nhiều khó khăn trong quá trình mua bán vì thiếu vốn, kiệt quệ tài chính, lãi Ngân hàng hàng tháng gây áp lực nặng nề. Nay anh khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Võ Thị O phải trả cho anh số tiền nợ còn thiếu từ việc mua bán tôm tổng cộng là 2.221.000.000₫ (Hai tỷ hai trăm hai mươi một triệu đồng), không yêu cầu tính lãi. Ngoài ra, không khởi kiện ai khác.
- Bị đơn bà Võ Thị O do chị Nguyễn Thị Tuyết T1 đại diện theo uỷ quyền trình bày: Thống nhất theo các lời trình bày trước đây của bà O. Cụ thể: Bà O thừa nhận có mua tôm của ông G, toa nào bà nhận thì bà trả tiền, toa nào không nhận thì bà không biết. Việc ông G khởi kiện yêu cầu bà trả số tiển 2.221.000.000₫ thì bà không đồng ý, bà thừa nhận chỉ thiếu lại ông G số tiền mua tôm ba trăm mấy chục triệu, bà không nhớ cụ thể, để bà về cộng sổ lại bà sẽ cung cấp số tiền cụ thể cho Toà án. Nếu ông G cho rằng bà còn thiếu số tiền mua tôm 2.221.000.000đ thì yêu cầu ông G đưa hoá đơn ra chứng minh. Bà khẳng định chỉ có bà làm ăn mua bán tôm với ông G, ngoài ra không có ai khác, những người khác phụ bà chuyển tiền không có trách nhiệm gì.
Tại đơn tường trình ngày 23/9/2023, bà Võ Thị O trình bày: Do ông Đinh Văn G không cùng bà kết toán nợ tiền tôm mà tự ý ghi âm cố tình gài bà nợ số tiền 2.221.000.000đ. Trong quá trình mua bán ngoài bà O trả số tiền 1.140.000.000₫, thì còn nhờ Võ Thị Mỹ C chuyển trả 140.000.000đ, Võ Thị Ngọc Y chuyển trả 598.000.000đ, tổng cộng 1.878.000.000đ. Như vậy, ông G khai bà O nợ 2.221.000.000₫ - 1.878.000.000đ = 343.000.000đ. Cho nên, bà Võ Thị O chỉ còn nợ lại ông Đinh Văn G số tiền 343.000.000đ (ba trăm bốn mươi ba triệu đồng).
Ngày 15/11/2023, bà Võ Thị O có đơn yêu cầu giám định. Yêu cầu ông Đinh Văn G cung cấp cho Toà án “bản gốc” bản ghi âm để Toà án trưng cầu giám định. Tuy nhiên, sau khi ông Đinh Văn G cung cấp văn bản ý kiến theo yêu cầu của Toà án, bà Võ Thị O có đơn dừng yêu cầu giám định. Nay bà Võ Thị O cũng cam kết không yêu cầu giám định nữa, do ông G không cung cấp bản ghi âm gốc, đề nghị Toà án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ bà O đã cung cấp xem xét giải quyết vụ kiện theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị T2 trình bày: Bà nhận được Thông báo đưa Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng của Toà án. Bà là vợ của ông Đinh Văn G là nguyên đơn trong vụ kiện với bà Võ Thị O. Bà thống nhất theo nội dung khởi kiện và yêu cầu của ông Đinh Văn G đối với bà Võ Thị O, bà không khởi kiện bổ sung hay yêu cầu gì khác. Bà khẳng định nội dung ghi âm được chép ra thành Vi bằng ông G cung cấp cho Toà án là hoàn toàn sự thật, không thêm bớt gì cả. Bà yêu cầu Toà án xem xét giải quyết theo yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn G.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn L trình bày: Ông không có chuyển số tiền nào do và Võ Thị O nhờ qua tài khoản của vợ chồng ông Đinh Văn G. Ông không có yêu cầu gì trong vụ án này.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị Mỹ C trình bày: Ngoài số tiền chị Võ Thị O chuyển trả, chị có thay chị O sử dụng tài khoản của chị số 0601000468473 Ngân hàng V, chuyển trả tiền cho ông Đinh Văn G qua tài khoản vợ ông là bà Lê Thị Thương s 16506783 tại Ngân hàng K, tổng cộng số tiền là 140.000.000đ (một trăm bốn chục triệu đồng), cụ thể: (Ngày 21/01/2022 chuyển 50.000.000đ; ngày 22/01/2022 chuyển 50.000.000đ; Ngày 10/02/2022 chuyển 4.000.000đ; ngày 10/02/2022 chuyển 36.000.000₫). Chị không có yêu cầu gì trong vụ án này và xin được vắng mặt trong quá trình tố tụng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị Ngọc Y có đơn xin vắng mặt nhưng có ý kiến trình bày: Ngoài số tiền chị Võ Thị O chuyển trả, chị có thay chị O sử dụng tài khoản của chị số 09881388888881 tại Ngân hàng Q (MB), chuyển trả tiền cho ông Đinh Văn G qua số tài khoản vợ ông là bà Lê Thị Thương s 070120758479 tại Ngân hàng S, tổng cộng số tiền 10 lần là 78.000.000₫ và chuyển từ Ngân hàng S số tài khoản 070859998966 qua tài khoản của Lê Thị Thương s 070120758479 số tiền là 520.000.000đ. Tổng cộng là 598.000.000đ. Chị không có yêu cầu gì trong vụ án này và xin được vắng mặt trong quá trình tố tụng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Thanh N có đơn xin vắng mặt nhưng có ý kiến trình bày: Ngoài số tiền cô Võ Thị O chuyển trả, anh có thay cô O chuyển tiền bằng Uỷ nhiệm chi của anh tại Ngân hàng S để chuyển trả tiền cho ông Nguyễn Hoàng G1 tại Ngân hàng A, số tài khoản của ông G1 7205999919999, tổng cộng số tiền là 252.000.000đ (hai trăm năm mươi hai triệu đồng), cụ thể: (Ngày 12/7/2022 chuyển 80.000.000đ; ngày 16/8/2022 chuyển 60.000.000đ; Ngày 26/8/2022 chuyển 60.000.000đ; Ngày 31/12/2022 chuyển 50.000.000đ; Ngày 16/03/2023 chuyển 2.000.000đ). Khi thực hiện động tác chuyển trả tiền qua Uỷ nhiệm chi thì cha anh là ông Võ Văn L đem tiền mặt ra Ngân hàng S thực hiện, việc tiền bạc giữa anh, cha anh (ông Võ Văn L), cô O đã thanh toán xong, không ai nợ ai. Anh không có chuyển số tiền nào qua tài khoản của vợ chồng ông Đinh Văn G. Anh không có yêu cầu gì trong vụ án này và xin được vắng mặt trong quá trình tố tụng.
3. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
- - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Văn G do chị Phan Thị Đoan T đại diện theo uỷ quyền.
- - Buộc chị Võ Thị O phải có trách nhiệm trả cho anh Đinh Văn G số tiền mua tôm còn nợ tổng cộng là 1.853.000.000đ (Một tỷ tám trăm năm mươi ba triệu đồng).
- Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí và tuyên về thời hạn kháng cáo.
4. Sau khi xét xử sơ thẩm, chị Võ Thị O kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Đinh Văn G.
5. Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; không đồng ý với nội dung kháng cáo của bị đơn. Trong trường hợp Hội đồng xét xử có căn cho rằng bị đơn có chuyển trả số tiền 59.000.000 đồng thì nguyên đơn đồng ý khấu trừ vào số tiền phải trả cho bị đơn.
- - Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng số tiền nợ của nguyên đơn thì bị đơn đã trả xong. Trong trường hợp không xem xét kháng cáo của bị đơn thì đề nghị trừ lại số tiền 59.000.000 đồng mà bị đơn đã chuyển trả kể từ sau ngày hai bên nói chuyện điện thoại và lập vi bằng.
- - Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biều quan điểm: Việc bị đơn thiếu nợ nguyên đơn là có thật. Theo các vi bằng của phía ông G cung cấp thì bà O có thừa nhận còn nợ ông G số tiền như án sơ thẩm đã tuyên. Tai cấp sơ thẩm bà O không chứng minh được là bị đơn có trả cho ông G số nợ đã thừa nhận. Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn cũng không cung cấp thêm chứng cứ nào mới chứng minh mình đã trả nợ xong. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm. Trong trường hợp Hội đồng xét xử có căn cho rằng bị đơn có chuyển trả số tiền 59.000.000 đồng thì nguyên đơn đồng ý khấu trừ vào số tiền phải trả cho bị đơn.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới để chứng minh cho việc mình đã trả nợ xong cho nguyên đơn. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào các vi bằng nguyên đơn cung cấp thì sau khi hai bên thừa nhận số tiền phải trả theo Vi bằng thì bị đơn có chuyển trả thêm số tiền 59.000.000 đồng, được nguyên đơn đồng ý khấu trừ vào số tiền phải trả là phù hợp. Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Võ Thị O, khấu trừ số tiền bị đơn O phải trả cho nguyên đơn là 59.000.000 đồng, số tiền còn lại phải trả là 1.794.000.000 đồng.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn số tiền mua bán còn nợ nên việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp dân sự- mua bán tài sản” là phù hợp với quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm nên có kháng cáo. Tòa án T3 thụ lý giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị O; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
- Về chứng cứ: Cả hai bên đều trình bày khi mua bán hai bên không có làm sổ sách, hóa đơn chi tiết mà dựa vào uy tín với nhau để giao dịch, cho nên chứng cứ duy nhất của anh là hai đoạn ghi âm cuộc nói chuyện giữa vợ chồng anh và bà O được Văn phòng T4 trích xuất thành hai Vi bằng cung cấp trong hồ sơ, yêu cầu Toà án xem xét. Căn cứ vào hai đoạn ghi âm và nội dung hai Vi bằng được trích xuất ra, Toà án đã tiến hành cho anh G, bà O, bà T2 nghe nội dung ghi âm và đọc từng nội dung trong Vi bằng cho các bên nhận diện giọng nói có đúng của mình không thì ông G, bà O, bà T2 đều thừa nhận đúng là giọng của từng người tương ứng với từng câu nói trong nội dung ghi âm. Do đó, có đủ cơ sở chứng minh giá trị pháp lý của hai đoạn ghi âm và nội dung được trích xuất ra thành hai vi bằng của Văn phòng T4.
- Căn cứ vào nội dung ghi âm ngày 05/02/2023 được lập Vi bằng ngày 27/03/2023 thể hiện anh G cho rằng bà O còn thiếu tiền mua tôm là một tỷ 768 (một tỷ bảy trăm sáu mươi tám triệu đồng), bà O nhiều lần khẳng định không có tỷ bảy sáu mấy, tỷ 3 tỷ 4 gì à. Cụ thể: Tại trang 3, từ dòng thứ 18 đến dòng thứ 20 (từ trên xuống) có nội dung: Ông G: Là là 2 tỷ 068 nè, là bà ... đợt đó bà đưa tôi 2 lần nè 300 triệu là còn lại 1 tỷ 768. Bà O: Không có tỷ bảy sáu mấy, tỷ 3 tỷ 4 gì à!. Tại trang 3, từ dòng thứ 25 đến dòng thứ 27 (từ trên xuống) có nội dung: Bà O: Tôi nói chị G gì nè, tỷ 3 tỷ 4 gì chớ không có tỷ 7 tỷ 8 đâu mà tôi nói gì nè, có chị với anh G thôi giờ á, hai người tiếp tôi đi, tôi trả 700 triệu đi, chứ nhiều quá tôi trả không có nổi. Tại trang 4, từ dòng thứ 09 đến dòng thứ 10 (từ trên xuống) có nội dung: Bà O: Biết rồi, mà hông ... mà tôi nói với ông G nghe nè, tôi không có thiếu ông tỷ 7 tỷ 8 đâu bảo đảm giấy tờ ở nhà còn kìa. và dòng thứ 13 đến dòng thứ 15 (từ trên xuống) thể hiện: Bà T2: Bây giờ chị về cộng hết số phiếu ở nhà đó. Bà O: Thôi mắc công tới lui, bà ngoại, ...mắc công. Bây giờ nè, bửa hổm tính là có tỷ 7...tỷ 4, tỷ rưỡi gì à ... hông tỷ 3 tỷ 4 gì à hông có tỷ rưỡi. Tại trang 6, từ dòng thứ 24 đến dòng thứ 27 (từ trên xuống) có nội dung: Bà O: Nói gì nè, thôi chị G với ông ... với chị gì đi, lấy tôi 700 triệu được rồi, nếu có khả năng tôi trả nữa. Ông G: Ủa, tự nhiên ở đâu mà 700 triệu 800 triệu gì. Bà O: Nếu tôi có khả năng tôi trả thêm nữa. Như vậy, căn cứ lời thừa nhận nhiều lần của bà O trong đoạn ghi âm “tỷ 3 tỷ 4 gì à”, có căn cứ chứng minh bà Võ Thị O thừa nhận còn thiếu anh G số tiền là 1.300.000.000đ hoặc 1.400.000.000đ. Do anh G không có chứng cứ nào khác chứng minh nên bà O thừa nhận tới đâu thì phải chịu trách nhiệm đến đó, nghĩa là bà O thừa nhận còn nợ anh G số tiền 1.400.000.000₫ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng).
- Đối với nội dung file ghi âm ngày 15/4/2023 được Văn phòng T4 trích xuất thành Vi bằng ngày 29/5/2023 thể hiện: Ông G cho rằng số tiền 400 triệu mà chị O trình bày thực chất là 453 triệu, số tiền này không nằm trong số tiền 1 tỷ bảy trăm sáu mươi tám triệu, nó nằm riêng một khớp. Số tiền này cộng với số tiền 1 tỷ bảy trăm sáu mươi tám triệu mới ra số tiền 2.221.000.000₫ mà anh khởi kiện. Tuy nhiên, Bà O cho rằng số tiền 400 mấy chục triệu này trả được một số mới còn lại ba trăm mấy chục triệu như bà đã trình bày. Xét thấy, Tại trang 3 của Vi bằng, từ dòng thứ 12 đến dòng thứ 13 (từ trên xuống) có nội dung: Bà O: ... Tôi sẽ trả số tiền cho ông 4 mấy chục triệu này thôi, còn cái kia thì nữa tính sau. Tại trang 4, từ dòng thứ 6 đến dòng thứ 7 (từ trên xuống) có nội dung: Bà O: Anh G ơi! Bây giờ, tôi lúc này không có tiền nữa, bây giờ á tôi đã ráng cố gắng trả ông số tiền 400 mấy chục triệu, tôi tranh thủ tôi trả cho rồi đi. Như vậy, bà O thừa nhận số tiền bốn trăm mấy chúc triệu này và hứa trả cho anh G, cụ thể là 453.000.000₫ như anh G trình bày. Số tiền này không nằm trong số tiền 1 tỷ bảy trăm sáu mươi tám triệu nên bà O mới thừa nhận Tôi sẽ trả số tiền cho ông 4 mấy chục triệu này thôi, còn cái kia thì nữa tính sau. Căn cứ lời thừa nhận nhiều lần của bà O trong đoạn ghi âm “400 mấy chục triệu”, cụ thể là 453.000.000đ, có căn cứ chứng minh bà Võ Thị O thừa nhận còn thiếu anh G số tiền là 453.000.000₫ (Bốn trăm năm mươi ba triệu đồng).
- Xét việc bà Võ Thị O cho rằng lời trình bày của bà trong hai đoạn ghi âm thừa nhận số tiền “tỷ 3 tỷ 4 gì à” và “400 mấy chục triệu” là sau khi trừ đi số tiền bà đã trả cho anh G số tiền còn lại chỉ có ba trăm mấy chục triệu à, bà O cam kết sẽ cung cấp số tiền cụ thể cho Toà án nhưng bà O không cung cấp được số tiền ba trăm mấy chục triệu là bao nhiêu. Ngày 25/9/2023, bà Võ Thị O cung cấp cho Toà án đơn tường trình của chị Võ Thị Mỹ C, chị Võ Thị Ngọc Y và các bản sao kê của Ngân hàng để chứng minh số tiền chuyển trả cho ông G tổng cộng là 1.878.000.000đ. Tại phiên toà hôm nay, bà Võ Thị O cung cấp bảng kê chuyển tiền mua bán tôm cho anh G từ ngày 01/01/2023 đến ngày 28/02/2023 số tiền là 825.900.000đ và các khoản tiền Võ Thị O, Võ Thị Mỹ C, Nguyễn Thị Ngọc Y1 chuyển cho bà Lê Thị T2, tổng cộng các khoản là 2.703.900.000đ. Tuy nhiên, đối chiếu với bảng kê phía bà O chuyển tiền so với yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Văn G đối với với các phiếu giao hàng từ ngày 19/01/2023 đến ngày 09/02/2023 là không khớp nhau. Tuy nhiên, phía bà O không giải trình được các lần chuyển tiền trên là chuyển cho đơn hàng (chuyến hàng) nào, số lượng bao nhiêu, thành tiền bao nhiêu, còn nợ lại bao nhiêu. Trong khi đó phía nguyên đơn cho rằng ngoài số tiền chuyển trả của từng chuyến hàng thì số tiền còn nợ lại nên mới tổng cộng thành số nợ cuối cùng. Sau khi đối chiếu lại các hóa đơn bán hàng và các lần chuyển khoản thì số tiền bà bà O nhờ chị Mỹ C và chị Y1 chuyển dùm đều là vào năm 2021 và 2022, không khớp với thời gian mà ông G yêu cầu. Các hóa đơn mà ông G yêu cầu là từ ngày 19/01/2023 đến ngày 09/02/2023. Do đó, xét trình bày của phía bà Võ Thị O là chưa có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét.
Từ những chứng cứ được phân tích như trên, có đủ căn cứ chứng minh bà Võ Thị O thừa nhận còn thiếu anh Đinh Văn G số tiền mua tôm là 1.853.000.000₫ (1.400.000.000đ + 453.000.000₫).
Tuy nhiên, căn cứ vào các hóa đơn chuyển tiền phát sinh sau ngày lập 02 Vi bằng thì phía bà O có chuyển thêm cho nguyên đơn số tiền 59.000.000 đồng, số tiền này được nguyên đơn đồng ý khấu trừ nên cần xem xét trừ vào số tiền phải trả là mới phù hợp.
Như vậy, số tiền bà O phải trả cho ông G là 1.853.000.000 đồng – 59.000.000 đồng = 1.794.000.000 đồng.
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy có cơ sở để chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị O.
Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 09/04/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, Đồng Tháp.
Việc sửa án sơ thẩm do nguyên đơn và bị đơn thống nhất số tiền trả thêm sau khi hai bên lập vi bằng, không phải lỗi của Tòa án sơ thẩm.
[3]Xét lời trình bày của luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp cho ông Đinh Văn G là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
[4]Xét lời trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp là phù hợp nên chấp nhận.
[5] Về phần án phí: Do chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà O nên bà O không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm và án phí sơ thẩm cần xem xét điều chỉnh lại cho phù hợp.
[6] Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 điều 26, khoản 1 Điều 38; Điều 148, khoản 2 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 48- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
- Chấp chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị O;
- Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự;
* Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Văn G.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí:
- - Buộc bà Võ Thị O có trách nhiệm nộp 65.820.000₫ (Sáu mươi lăm triệu tám trăm hai chục nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Buộc anh Đinh Văn G có trách nhiệm nộp 20.170.000đ (hai mươi triệu một trăm bảy chục ngàn) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 38.210.000đ theo biên lai thu số 0001023 ngày 27/4/2023, anh Đinh Văn G được nhận lại số tiền 18.040.000đ (mười tám triệu không trăm bốn chục ngàn) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự.
- * Về án phí phúc thẩm:
- Bà Võ Thị O không phải chịu án phí phúc thẩm, được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai số 0005101 ngày 22/4/2024 của Chi cục thi hành án thành phố Hồng Ngự.
- Buộc bà Võ Thị O phải có trách nhiệm trả cho anh Đinh Văn G số tiền mua tôm còn nợ tổng cộng là 1.794.000.000đ (Một tỷ bảy trăm chín mươi bốn ngànđồng).
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tùng |
Bản án số 549/2024/DS-PT ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự- mua bán tài sản
- Số bản án: 549/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự- mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .
