Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

QUẬN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 549/2025/DS-ST

Ngày: 27-6-2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Thảo Linh
  • 2. Ông Đỗ Quang Lý

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa :Bà Đoàn Thị Thúy Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 693/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 719/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 05 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 941/2025/QĐST-DS ngày 05/06/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S

Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D

Người đại diện theo ủy quyền:

  • Phạm Quyết C – sinh năm 1987 (Vắng mặt)
  • Văn bản ủy quyền: số 03/2024/UQ-TGĐ ngày 01/7/2024
  • Hoặc ông Đặng Hoài P – sinh năm 1992 (có mặt)
  • Văn bản ủy quyền: số 40/2024/UQ-TGĐ ngày 25/7/2024
  • Cùng địa chỉ: Số C -CN, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Đinh Thị Thùy T – sinh năm 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số C T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :

Ông Bùi Tấn V – sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số C T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23/07/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S (Gọi tắt Ngân hàng S) do ông Đặng Hoài P là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 11 tháng 07 năm 2023, Ngân hàng S và bà Đinh Thị Thùy T có ký Hợp đồng tín dụng số [...]. Theo đó, bà T được ngân hàng giải ngân với số tiền tổng cộng là 2.500.000.000 đồng, cụ thể:

  • - Giấy nhận nợ số LD2320200574 ký ngày 17/07/2023, đáo hạn ngày 21/07/2024 với số tiền là 500.000.000 đồng, lãi suất 10.5%/năm.
  • - Giấy nhận nợ số LD2322700739 ký ngày 15/08/2023, đáo hạn ngày 21/07/2024 số tiền là 500.000.000 đồng, lãi suất 8.5%/năm.
  • - Giấy nhận nợ số LD2322700737 ký ngày 15/08/2023, đáo hạn ngày 21/07/2024 số tiền là 500.000.000 đồng, lãi suất 8.5%/năm.
  • - Giấy nhận nợ số LD2322700741 ký ngày 15/08/2023, đáo hạn ngày 21/07/2024 số tiền là 500.000.000 đồng, lãi suất 8.5%/năm.
  • - Giấy nhận nợ số LD2322700735 ký ngày 15/08/2023, đáo hạn ngày 21/07/2024 số tiền là 500.000.000 đồng, lãi suất 8.5%/năm.

Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn kinh doanh

Thời hạn vay: 12 tháng.

Phương thức thanh toán: Trả lãi hàng tháng và trả gốc vào cuối kỳ, thanh toán vào ngày 30 hàng tháng.

Để đảm bảo cho số nợ vay, bà T có thế chấp tài sản là Thửa đất số 110, tờ bản đồ số 01, Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (Nay là K Phong L, Phường Đ, Thị Xã Đ, Tỉnh Quảng Nam). Hiện trạng là đất trống, không có nhà, không có trồng cây lâu năm.

Bà T đã thanh toán tiền lãi từ ngày 21/07/2023 đến ngày 29/06/2024 là 194.704.107 đồng.

Ngày 29/06/2024, do bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng S đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.

Mặc dù Ngân hàng S thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp để yêu cầu bà T có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để bà T trả nợ. Tuy nhiên, bà T vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay cho ngân hàng. Bà T vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký. Do đó Ngân hàng S khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà T phải thanh toán một lần cho ngân hàng số tiền nợ gốc và nợ lãi theo Hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ mà hai bên giao kết.

Tính đến ngày 26/06/2025 bà T còn nợ Ngân hàng S tổng số tiền là 2.794.305.484 đồng, trong đó:

  • Nợ vốn: 2.500.000.000 đồng;
  • Nợ lãi trong hạn : 22.380.736 đồng;
  • Nợ lãi quá hạn: 269.763.710 đồng;
  • Lãi phạt: 2.161.038 đồng.

Từ ngày 27/06/2025 bà T tiếp tục thanh toán tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng cho đến khi thi hành xong các khoản nợ.

Trong trường hợp bà T không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng S có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là Thửa đất số 110, tờ bản đồ số 01, thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (Nay là khối Phố Phong L, phường Đ, Thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam) theo hợp đồng thế chấp số 01-673/2023/ HĐTC/PTH ngày 11/7/2023 được Văn phòng công chứng Đặng Thị B chứng thực số 001929 ngày 11/7/2023. Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 12/7/2023 tại chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Quảng Nam. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ trả nợ cho Ngân hàng S thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc sở hữu của bên được cấp tín dụng để xử lý nhằm thu hồi toàn bộ số nợ còn thiếu.

Ngân hàng S thương T1 xác nhận bà T là người trực tiếp ký Hợp đồng tín dụng với ngân hàng. Ngân hàng giải ngân trực tiếp cho bà T. Ngân hàng không có yêu cầu buộc chồng bà T là ông Bùi Tấn V phải liên đới có trách nhiệm trả nợ. Ngoài ra ông V có văn bản xác nhận tài sản thế chấp là tài sản riêng của bà T.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là bà Đinh Thị Thùy T có lời khai thể hiện:

Năm 2023 bà có ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng S để vay số tiền tổng cộng là 2.500.000.000 đồng. Thời hạn vay là 12 tháng từ tháng 7/2023 đến tháng 7/2024 hạn thanh toán cuối cùng. Tuy nhiên do điều kiện kinh tế khó khăn nên bà thanh toán tiền cho ngân hàng trễ hạn. Bà thanh toán trễ hạn 01 kỳ trả nợ nhưng ngân hàng đã chuyển sang nợ quá hạn đối với khoản vay của bà. Tháng 8/2024 bà có thông báo với ngân hàng là tiếp tục đóng lãi nhưng ngân hàng thông báo cho bà biết là hợp đồng tín dụng quá hạn nên không đóng được. Gây khó khăn cho bà muốn vay ở ngân hàng khác để tất toán khoản vay này nhưng không được giải quyết. Bà có đến ngân hàng đề nghị hỗ trợ giảm lãi suất nhưng không được chấp nhận. Ngoài ra bà mong muốn được tách thửa đất đối với tài sản bảo đảm thành nhiều thửa nhỏ để bán một phần thanh toán nợ cho ngân hàng. Ban đầu ngân hàng đồng ý hỗ trợ cho bà về việc tách thửa đất nhưng sau đó ngân hàng từ chối không hợp tác. Do đó bà gặp khó khăn không bán được tài sản để thanh toán nợ cho ngân hàng.

Nay bà xin Ngân hàng tạo điều kiện hỗ trợ cho bà tách thửa để bán tài sản lấy tiền thanh toán nợ cho ngân hàng. Đồng thời ngân hàng kéo dãn thời gian thanh toán trong thời hạn 06 tháng tạo điều kiện bà tìm nguồn tiền trả nợ cho ngân hàng. Bà xin được trả nợ gốc và nợ lãi trong hạn, bà không đồng ý nợ lãi qua hạn và lãi phạt.

Tại phiên tòa hôm nay:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn bà Đinh Thị Thùy T; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Tấn V. Tuy nhiên bà T, ông V vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó Tòa án vẫn đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng S; Hợp đồng tín dụng số và các Giấy nhận nợ, xác định đây là quan hệ tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Do bị đơn cư ngụ tại quận T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú.

Thời hạn tố tụng: Thẩm phán vi phạm thời gian chuẩn bị xét xử được quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, kiến nghị rút kinh nghiệm .

Về người tham gia tố tụng : Xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.

Về thu thập chứng cứ : Thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng S yêu cầu bà T phải thanh toán một lần số tiền còn nợ tính đến ngày 26/06/2025 là 2.794.305.484 đồng (Trong đó nợ gốc là 2.500.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn : 22.380.736đồng; Nợ lãi quá hạn : 269.763.710 đồng ; Lãi phạt : 2.161.038 đồng).

Trường hợp, bà T không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ ngay, N có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 110, tờ bản đồ số 01, thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (Nay là khối Phố Phong L, phường Đ, Thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam) để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Xét thấy, bà T với Ngân hàng S có giao kết Hợp đồng tín dụng để vay tiền. Để đảm bảo cho số nợ vay, bà T có dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để thế chấp cho Ngân hàng S. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay. Căn cứ Điều 340, Điều 342 của Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng S.

Tại phiên tòa sơ thẩm, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét, đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng S; Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 11 tháng 07 năm 2023 và các Giấy nhận nợ, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Do bị đơn cư trú tại quận T nên Toà án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng và xét xử vắng mặt:

Nội dung biên bản xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp của Tòa án nhân dân huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam thể hiện tại thửa đất số 110, tờ bản đồ số 01, thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (Nay là khối Phố Phong L, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam) hiện không có tài sản trên đất.

Ông Bùi Tấn V là chồng của bà Đinh Thị Thùy T. Căn cứ Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Tòa án đưa ông V vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Đinh Thị Thùy T; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Tấn V. Tuy nhiên các ông bà vẫn vắng mặt và không cử người đại diện đến Tòa án để tham dự phiên tòa. Căn cứ Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay bị đơn ông Bùi Tấn V không đến Tòa án để trình bày lời khai và cung cấp chứng cứ, mặc dù đã được Tòa án thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ, yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn Ngân hàng S, lời trình bày của bà T để xem xét giải quyết vụ án.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

Xét, Ngân hàng S1 yêu cầu bà T thanh toán một lần số tiền còn nợ cho ngân hàng ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật. Các khoản tiền theo các Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 11 tháng 07 năm 2023 và các Giấy nhận nợ, cụ thể:

  • Nợ vốn: 2.500.000.000 đồng;
  • Nợ lãi trong hạn : 22.380.736 đồng;
  • Nợ lãi quá hạn: 269.763.710 đồng;
  • Nợ lãi phạt: 2.161.038 đồng;
  • Tổng cộng: 2.794.305.484 đồng
  • Tiền nợ lãi tính đến ngày 26/06/2025

Bà T đồng ý thanh toán khoản tiền nợ gốc và nợ lãi trong hạn cho ngân hàng nhưng xin thêm thời gian để bà bán tài sản trả nợ. Bà T không đồng ý thanh toán nợ lãi qua hạn và lãi phạt.

Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ Hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ, thể hiện giữa Ngân hàng S với bà T có thực hiện giao dịch vay tiền. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ. Ngân hàng S nhiều lần nhắc nợ nhưng bà T vẫn không thực hiện. Bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nay bà T muốn kéo dài thời gian trả nợ là gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của phía nguyên đơn Ngân hàng S. Căn cứ Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Sau khi bà T thanh toán đầy đủ các khoản nợ gốc và nợ lãi cho ngân hàng S, phía ngân hàng phải trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (Thửa đất số 110, tờ bản đồ số 01, thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (Nay là khối Phố Phong L, phường Đ, Thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam), Số BK 117813, số vào sổ cấp GCN: CH00223 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam cấp ngày 28/5/2012 cho bà Đinh Thị Thùy T.

Xét, Ngân hàng S yêu cầu trong trường hợp đến thời hạn thanh toán nợ mà bà T không thanh toán, phía ngân hàng được quyền yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.

Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ Hợp đồng thế chấp tài sản số 01-673/2023/HĐTC/PTH ngày 11/7/2023 giữa Ngân hàng S với bà T được Văn phòng C1 chứng thực ngày 11/7/2023, số công chứng 001929. Tài sản thế chấp là thửa đất số 110, tờ bản đồ số 01, thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (Nay là khối Phố Phong L, phường Đ, Thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam), tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng Đ ngày 12/07/2023.

Tài sản trên đã được thế chấp để đảm bảo cho số nợ vay của bà T. Hình thức Hợp đồng thế chấp được công chứng đúng theo quy định của pháp luật và tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng Đ. Đến hạn thanh toán nợ mà bà T không thanh toán thì bà T phải bàn giao tài sản nêu trên để Ngân hàng S thực hiện quyền yêu cầu phát mãi tài sản. Căn cứ Điều 318, Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015, yêu cầu của Ngân hàng S về việc phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có cơ sở để chấp nhận

Xét, bà T thừa nhận có ký kết Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng S để vay tiền và ký Hợp đồng thế chấp tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo cho số nợ vay. Tuy nhiên hiện nay bà T vẫn chưa thanh toán đầy đủ nợ gốc và nợ lãi cho ngân hàng. Bà T đồng ý trả nợ nhưng cho thêm thời gian để tìm người mua tài sản.

Hội đồng xét xử xét thấy việc bà T xin thêm thời gian để kéo dài việc thanh toán nợ nhưng không được phía Ngân hàng S nên không có cơ sở để xem xét.

Xét, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, Ngân hàng S1 không yêu cầu ông V cùng liên đới chịu trách nhiệm với bà T trả nợ cho ngân hàng. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Thời hạn thanh toán:

Xét, Ngân hàng S yêu cầu bà T phải thanh toán số tiền nợ gốc và nợ lãi một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy, bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ cho ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ là gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng S. Căn cứ Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2017), yêu cầu của Ngân hàng S là có cơ sở để chấp nhận.

[5] Chi phí tố tụng: Ngân hàng S đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng về xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là 2.000.000 đồng (Tòa án nhân dân huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đã thu). Ngân hàng S yêu cầu bà T phải trả lại cho ngân hàng số tiền này. Căn cứ Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S được chấp nhận nên bà T phải chịu chi phí tố tụng này.

[6]Về án phí Dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của Ngân hàng S được chấp nhận nên bà T phải chịu án phí trên số tiền phải trả là 2.794.305.484 đồng = 87.886.100 đồng.

H lại số tiền tạm nộp án phí cho Ngân hàng S.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự ;
  • - Điều 318, Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015 ;
  • - Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Buộc bà Đinh Thị Thùy T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S các khoản tiền gồm:

  • Nợ vốn: 2.500.000.000 đồng .
  • Nợ lãi trong hạn : 22.380.736 đồng;
  • Nợ lãi quá hạn: 269.763.710 đồng;
  • Nợ lãi phạt: 2.161.038 đồng .
  • Tổng cộng: 2.794.305.484 đồng (Hai tỷ bảy trăm chín mươi bốn triệu ba trăm lẻ năm ngàn bốn trăm tám mươi tư đồng).

Nợ lãi này tính đến ngày 26/06/2025.

Từ ngày 27/6/2025 bà Đinh Thị Thùy T phải chịu lãi suất theo Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 11 tháng 07 năm 2023 và các Giấy nhận nợ cho đến khi thi hành xong các khoản nợ.

Sau khi bà Đinh Thị Thùy T thanh toán đầy đủ các khoản nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng thương mại cổ phần S, phía ngân hàng phải trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (Thửa đất số 110, tờ bản đồ số 01, thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (Nay là khối Phố Phong L, phường Đ, Thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam), Số BK 117813, số vào sổ cấp GCN: CH00223 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam cấp ngày 28/5/2012 cho bà Đinh Thị Thùy T.

Trong trường hợp đến ngày Bản án có hiệu thi hành mà bà Đinh Thị Thùy T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì bà T phải bàn giao tài sản là Thửa đất số 110, tờ bản đồ số 01, thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (Nay là khối Phố Phong L, phường Đ, Thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam); Số BK 117813, số vào sổ cấp GCN: CH00223 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam cấp ngày 28/5/2012, theo Hợp đồng thế chấp số 01-673/2023/HĐTC/PTH được Văn phòng C1 chứng thực ngày 11/7/2023, số công chứng 001929; Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng Đ ngày 12/07/2023, để Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ.

Trường hợp sau khi phát mãi tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán các khoản nợ nêu trên thì bà T phải có nghĩa vụ trả tiếp cho đến khi thanh toán hết nợ.

Buộc bà Đinh Thị Thùy T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S chi phí tố tụng về việc xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là 2.000.000đồng (Hai triệu đồng).

Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Án phí Dân sự sơ thẩm: 87.886.100 đồng (Tám mươi bảy triệu tám trăm tám mươi sáu ngàn một trăm đồng) bà Đinh Thị Thùy T chịu.

H lại số tiền 41.240.453 đồng (Bốn mươi mốt triệu hai trăm bốn mươi ngàn bốn trăm năm mươi ba đồng) cho Ngân hàng thương mại cổ phần S theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0040250 ngày 01/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - TAND TP .HCM ;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND Q.Tân Phú;
  • - Chi cục THA DS Q.Tân phú ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 549/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 549/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger