|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 549//2024/HNGĐ-ST Ngày: 05/9/2024 V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thiên Kim
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lâm Thị Thu.
2. Bà Trần Thị Bích Liên
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 384/2024/TLST-HNGĐ ngày 19/7/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1372/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 1815/2024/QĐST – HNGĐ, ngày 21/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thùy L, sinh năm 1991. Địa chỉ: Số C tổ A, ấp A, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1987.Địa chỉ: Số C tổ A, ấp A, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Các đương sự đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện ngày 11 tháng 7 năm 2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Trần Thị Thùy L trình bày:
Bà Trần Thị Thùy L và ông Nguyễn Tấn P tự nguyện kết hôn vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 14, quyển số 01/2010, cấp ngày 24/02/2010.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Do tính chất công việc của bà L có tiếp xúc với đồng nghiệp nam và có liên hệ với nhau trao đổi về hàng hóa trong công việc. Ông P có tính hay ghen, đã lời qua tiếng lại, cải vã nhiều lần. Ông P quản lý chặc chẽ, tạo áp lực, gò bó, ép buộc bà L sống theo ý ông. Bà L không chịu đựng được nên xin phép mẹ chồng đề dọn về nhà mẹ đẻ ở. Thời gian này, ông P nhắn tin, gọi điện dùng những lời lẽ nặng nề xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà L. Bà L xác định không thể tiếp tục cuộc hôn nhân với ông P. Nay, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn ông Nguyễn Tấn P.
Về con chung: Bà L và ông P có hai con chung tên Nguyễn Thị Thảo N, sinh ngày 10/5/2012 và Nguyễn Thị Thảo N1, sinh ngày 17/02/2014. Bà L đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai và biên bản hòa giải, bị đơn ông Nguyễn Tấn P trình bày:
Ông và bà L tự nguyện kết hôn vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 14, quyển số 01/2010, cấp ngày 24/02/2010. Bà L đơn phương ly hôn nhưng ông sẽ đồng ý để Tòa án giải quyết thuận tình ly hôn. Sau đó, ông P đổi ý không muốn ly hôn nữa, nên yêu cầu Tòa án cho thêm thời gian để ông thuyết phục bà L rút đơn. Ông muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau lo cho con.
Tại phiên tòa, ông P xác định không níu kéo bà L nữa, đồng ý thuận tình ly hôn với bà L.
Về con chung: Ông và bà L có hai con chung tên Nguyễn Thị Thảo N, sinh ngày 10/5/2012 và Nguyễn Thị Thảo N1, sinh ngày 17/02/2014. Bà L đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, ông P không đồng ý, ông P muốn mỗi bên nuôi một con, đề nghị Tòa án giao trẻ N1 cho ông trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, không bên nào cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông P xác nhận không có.
Về nợ chung: Ông P xác nhận không có.
Ngoài ra không có yêu cầu gì khác
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Bà Trần Thị Thùy L yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Tấn P. Do ông P có địa chỉ cư trú tại huyện N nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về hôn nhân: Bà L đề nghị ly hôn, ông P đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà L. Nên Hội đồng xét xử công nhận bà Trần Thị Thùy L và ông Nguyễn Tấn P thuận tình ly hôn.
[2.2] Về con chung: Bà L và ông P có hai con chung tên Nguyễn Thị Thảo N, sinh ngày 10/5/2012 và Nguyễn Thị Thảo N1, sinh ngày 17/02/2014.
Bà L đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Ông P đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Thị Thảo N1, sinh ngày 17/02/2014, hai bên không cấp dưỡng nuôi con
Xét, cả hai trẻ đều sinh ra và lớn lên, đi học tại xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Trẻ Nguyễn Thị Thảo N có nguyện vọng muốn ở với mẹ, trẻ Nguyễn Thị Thảo N1 có nguyện vọng muốn ở với ba và mẹ. Hiện cả hai trẻ đều đang trong giai đoạn phát triển, cần được chăm sóc về đời sống vật chất, tinh thần và học tập. Cha mẹ cần phải có nguồn thu nhập và thời gian để chăm sóc nuôi dạy trẻ tốt nhất. Ông P và bà L đều phải có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Việc giao cả hai trẻ cho bà L nuôi dưỡng sẽ không đảm bảo tốt nhất cho trẻ. Nên xem xét toàn diện các vấn đề, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải giao cho mỗi bên một con chung để chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.
Ghi nhận việc bà L và ông P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L và ông P xác nhận không có.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà L có nghĩa vụ phải nộp, được cấn trừ vào tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0018004, ngày 19/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, bà L đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 và Điều 39; Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào các Điều 55, 57, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 và Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
- Về hôn nhân: Bà Trần Thị Mỹ L1 và ông Nguyễn Tấn P thuận tình ly hôn. Giấy chứng nhận kết hôn số 14, quyển số 01/2010, cấp ngày 24/02/2010, tại Ủy ban nhân dẫ xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Thảo N, sinh ngày 10/5/2012 cho bà Trần Thị Mỹ L1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung tên Nguyễn Thị Thảo N1, sinh ngày 17/02/2014 cho ông Nguyễn Tấn P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì quyền lợi của con khi cần thiết, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Ghi nhận việc bà L1 và ông P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con
- Về tài sản chung: Bà L1 và ông P xác nhận không có.
- Về nợ chung: Bà L1 và ông P xác nhận không có.
2/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Trần Thị Thùy L có nghĩa vụ phải nộp, được cấn trừ vào tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0018004, ngày 19/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, bà L đã nộp đủ án phí.
3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
4/ Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Thiên Kim |
Bản án số 549//2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 549//2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
