Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 549/2024/DS-PT

Ngày: 22 - 10 - 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lương

Bà Nguyễn Thị Rẻn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Nhật Hạ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Có - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 302/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 3911/2024/QĐXXPT-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:

    Ông Huỳnh Nguyễn Thế H, sinh năm 1982;

    Địa chỉ: Số C, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn:

    Ông Trần Trọng T, sinh năm 1981; (có mặt)

    Địa chỉ: Số D; ấp S, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre.

    Địa chỉ hiện nay: 104A3, khu phố B, phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

  2. Bị đơn:

    Ông Trần Thanh T1, sinh năm 1971; (có mặt)

    Bà Phạm Thị N, sinh năm 1975; (có mặt)

    Cùng địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.

  3. Người kháng cáo: Bà Phạm Thị N, là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản án sơ thẩm;

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào năm 2017, ông Trần Thanh T1 có vay tiền của ông H 02 lần, cụ thể như sau:

- Ngày 01/8/2017, ông T1 mượn số tiền 80.000.000 đồng, mục đích vay phục vụ kinh doanh vật liệu xây dựng của gia đình, thời gian vay là 03 tháng, có làm giấy mượn tiền. Ông H không tính lãi.

- Ngày 11/8/2017, ông T1 tiếp tục mượn số tiền 20.000.000 đồng, mục đích vay phục vụ kinh doanh vật liệu xây dựng của gia đình, thời gian vay là 03 tháng, có làm giấy mượn tiền, viết chung cùng với tờ giấy ngày 01/8/2017. Lần vay này ông H cũng không tính lãi.

Sau khi hết hạn trả nợ, mặc dù nhiều lần ông H liên hệ yêu cầu ông T1 trả nợ nhưng đến hiện tại không T1 không thực hiện việc trả nợ. Ông H khởi kiện yêu cầu ông Trần Thanh T1 và vợ là bà Phạm Thị N có nghĩa vụ liên đới trả lại cho ông H số tiền 100.000.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi.

Theo biên bản hòa giải, bị đơn là ông T1 trình bày:

Ông thừa nhận giấy mượn tiền viết tay có nội dung ngày 01/8/2017 vay số tiền 80.000.000 đồng và ngày 11/8/2017 vay thêm 20.000.000 đồng, tổng cộng số tiền 100.000.000 đồng là chữ ký và chữ viết của ông. Ông xác định chỉ vay của ông H số tiền 80.000.000 đồng, đã đóng lãi rất nhiều lần. Sau đó, do không có khả năng đóng lãi nên viết mượn thêm 20.000.000 đồng, thực chất đây là tiền lãi. Việc ông đóng tiền lãi không có giấy tờ gì chứng minh và ông cũng không yêu cầu xem xét lại tiền lãi. Ông mượn tiền là để xử lý tiền nợ do ông tham gia cờ bạc, đây là nợ riêng của một mình ông, không liên quan đến vợ ông là bà N. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông H, ông chỉ đồng ý một mình ông có trách nhiệm trả cho ông H số tiền 100.000.000 đồng.

Theo biên bản làm việc ngày 05/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, bị đơn là bà Phạm Thị N trình bày:

Bà là vợ của ông Trần Thanh T1. Hiện tại, cả hai vẫn còn sống chung nhà. Việc ông T1 vay mượn như thế nào với ông H thì bà không biết, bà không liên quan và không sử dụng tiền mà ông T1 đã vay. Ông T1 tự đi vay số tiền này, bà không biết gì về số nợ này nên không đồng ý liên đới với ông T1 trả nợ cho ông H. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt bà.

Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã tuyên:

Căn cứ:

  • Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;
  • Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91; Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Nguyễn Thế H đối với ông Trần Thanh T1 và bà Phạm Thị N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Buộc ông Trần Thanh T1 và bà Phạm Thị N có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Huỳnh Nguyễn Thế H số tiền nợ là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Ghi nhận ông Huỳnh Nguyễn Thế H không yêu cầu tính lãi.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/8/2024, bà Phạm Thị N có đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khời kiện của ông H là buộc ông T1 có nghĩa vụ trả nợ cho ông H, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H về việc buộc bà N có nghĩa vụ liên đới cùng với ông T1 trả nợ cho ông H.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bà N, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà N liên đới trả nợ cho ông H.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của pháp luật tố tụng.

- Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà N, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng; xét kháng cáo của bà Phạm Thị N và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Bà Phạm Thị N kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
  2. Về nội dung vụ án:

    Ông Huỳnh Nguyễn Thế H khởi kiện yêu cầu ông Trần Thanh T1 và bà Phạm Thị N liên đới trả số tiền nợ vay là 100.000.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi.

    Ông Trần Thanh T1 đồng ý một mình trả cho ông H số tiền 100.000.000 đồng. Bà Phạm Thị N không đồng ý liên đới trả nợ.

  3. Xét kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị N, Hội đồng xét xử xét thấy:

    Bà Phạm Thị N cho rằng bà không biết việc ông T1 mượn tiền của ông H nên không đồng ý liên đới trả nợ cho ông H. Ông T1 cho rằng việc ông mượn tiền là để xử lý tiền nợ cờ bạc, đây là nợ riêng của ông T1, bà N không biết và không liên quan. Tuy nhiên, căn cứ vào giấy mượn tiền viết tay có nội dung ngày 01/8/2017 vay số tiền 80.000.000 đồng và ngày 11/8/2017 vay thêm 20.000.000 đồng, tổng cộng số tiền 100.000.000 đồng là chữ viết của ông T1 và có chữ ký của ông T1 thể hiện việc mượn tiền mục đích là để “mua bán”. Đồng thời, căn cứ vào Trích lục kết hôn số 945 ngày 01/12/2023 của Ủy ban nhân dân xã T thể hiện ông T1 và bà N có đăng ký kết hôn, là vợ chồng hợp pháp và hiện tại ông T1 và bà N vẫn sống chung một nhà, kinh doanh vật liệu xây dựng, số tiền ông T1 vay ông H là nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông T1 và bà N phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho ông H là phù hợp với quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

  4. Do bà N kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì vậy, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
  5. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Phạm Thị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị N.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Căn cứ các điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 27 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ các điều 147, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Nguyễn Thế H đối với ông Trần Thanh T1 và bà Phạm Thị N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

    Buộc ông Trần Thanh T1 và bà Phạm Thị N có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Huỳnh Nguyễn Thế H số tiền là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).

    Ghi nhận ông Huỳnh Nguyễn Thế H không yêu cầu tính tiền lãi.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

    - Ông Trần Thanh T1 và bà Phạm Thị N phải liên đới chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 5.000.000đ (năm triệu đồng).

    - H1 lại cho ông Huỳnh Nguyễn Thế H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000421 ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Phạm Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003020 ngày 08 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 549/2024/DS-PT ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 549/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản nguyên đơn Huỳnh Nguyễn Thế Huy với bị đơn Trần Thanh Tùng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger