|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 548/2024/DS-PT Ngày: 19 - 7 – 2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Yên
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Minh
Bà Hồ Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thu Phương - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hoa- Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 893/2023/TLPT-DS ngày 26 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 18 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 912/2024/QĐPT-HC ngày 24 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đình Trai T, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Ấp G, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Sin Thoại K, sinh năm 1973.
Địa chỉ: 3 đường P, Phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị T1: Luật sư Lâm Văn G - Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1980.
Địa chỉ: 8318 22nd STNE Lake Stevens W, U.S.A (Hoa Kỳ).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình Trai T, sinh năm 1982 (có mặt).
2. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số E đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có đơn xin xét xử vắng mặt).
3. Ông Nguyễn Đình T2, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Số B đường B, Khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện C, Đồng Nai (có mặt).
2. Ông Nguyễn Đình Trai T3, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Thôn G, B, xã B, huyện L, Đồng Nai (có mặt).
Người kháng cáo: bị đơn bà Nguyễn Thị T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Đình Trai T trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị L là bạn bè với nhau nên khi bà L về Việt Nam, cả hai có bàn bạc và hùn vốn nhận chuyển nhượng đất. Vào ngày 06/10/2018, ông và bà Nguyễn Thị L cùng nhau hùn vốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất 1.506,2m², thửa 63, tờ bản đồ số 41 xã S, huyện C Đồng Nai của ông Nguyễn Đình Trai T3 với giá là 1.650.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng). Ông là người trực tiếp làm hợp đồng chuyển nhượng viết tay và thanh toán tiền cho ông T3, thanh toán làm nhiều lần theo như hợp đồng chuyển nhượng viết tay, phần hùn của ông là ½ giá trị đất, bà L là ½ giá trị đất, phần của ông thì ông ứng ra thanh toán trước, phần của bà L thì bà L ở Mỹ gửi tiền về thông qua bà Nguyễn Thị T1 (Em bà L), Nguyễn Thị Đ (Chị bà L) hoặc ông rồi giao lại cho ông để ông trực tiếp thanh toán số tiền chuyển nhượng cho ông T3. Thời điểm ông và bà Lý hùn chuyển nhượng đất thì ông chuẩn bị cưới vợ nên việc đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sợ liên quan đến tài sản chung sau này, còn bà L là người đang định cư tại Mỹ không thuận lợi cho việc đứng tên, nên có nhờ người em ruột của bà L là bà Nguyễn Thị T1 đứng tên trên hợp đồng chuyển nhượng ký tại Phòng công chứng và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 762363 ngày 30/01/2019 (Số vào sổ cấp GCN: CS 05639).
Nhưng sau khi bà T1 đứng tên giùm thì bà T1 có ý chiếm đoạt để chuyển nhượng cho người khác, khi biết được việc này ông có trao đổi với bà L và bà L có yêu cầu bà T1 chuyển tên lại cho bà Đ đứng tên. Khi đó, bà T1 cũng đồng ý ra Phòng công chứng ký sang tên lại cho bà Nguyễn Thị Đ (Cũng là chị ruột của bà L và bà T1), nhưng vì mục đích muốn lợi dụng việc mình đứng tên trên giấy chứng nhận để chiếm và chuyển nhượng cho người khác nên khi ra Phòng công chứng bà T1 thay đổi ý kiến, bà T1 kiếm chuyện bỏ đi không ký vào hợp đồng sang lại tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đ đứng.
Việc chuyển nhượng diện tích đất nói trên thì bà T1 hoàn toàn không biết cách thức chuyển nhượng, phương thức thanh toán, vị trí đất như thế nào. Vì bà T1 là người đứng tên giùm nên chỉ đến Phòng công chứng ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng theo quy định để đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tất cả mọi nội dung khác ông và bà L trực tiếp thỏa thuận và quyết định chuyển nhượng với ông T3.
Sau khi nhận chuyển nhượng, ông là người trực tiếp nhận đất và canh tác từ đó đến nay, bà T1 không biết thửa đất khi nhận chuyển nhượng như thế nào và hiện nay như thế nào. Nếu như là đất không phải của ông và bà L chuyển nhượng và bà T1 chỉ là người đứng tên giùm thì bà T1 đã tranh chấp buộc ông giao trả đất từ lâu rồi, không phải để đến khi ông và bà L khiếu kiện.
Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đây là số CQ 762363 ngày 30/01/2019 (Số vào sổ cấp GCN: CS 05639) và hiện nay là số CS 179776 ngày 06/6/2019 (Số vào sổ cấp GCN: CS 06097) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho bà Nguyễn Thị T1 đối với thửa đất số 63, tờ bản đồ số 41 xã S, huyện C là đúng, nhưng người đứng tên trên giấy không đúng là chủ sử dụng đất thông qua nhận chuyển nhượng.
Phần hùn (Phần giá trị tiền mỗi bên bỏ ra) nhận chuyển nhượng đất giữa ông và bà L thì cả hai đã thỏa thuận sẽ giải quyết với nhau. Ông yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 179776 (Số vào sổ cấp GCN: CS 06097) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày ngày 06/6/2019 cho bà Nguyễn Thị T1 đối với thửa đất số 63, tờ bản đồ số 41 xã S, huyện C; Công nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện đất này cho ông và bà L (thông qua tên ông), vì ông là chủ thực sự thông qua việc trực tiếp nhận chuyển nhượng, thanh toán giá trị chuyển nhượng và hiện tại là người đang quản lý diện tích đất đã nhận chuyển nhượng để ông tiến hành kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất đã nhận chuyển nhượng theo quy định.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị T1 và người đại diện là ông Sin Thoại K trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm trình bày:
Bà T1 là em ruột của bà Nguyễn Thị L, bà sống ở vùng nông thôn và là mẹ đơn thân nên kinh tế gặp khó khăn. Vì tình cảm chị em trong gia đình nên bà L có
gửi tiền về giúp đỡ bà trong lúc khó khăn, bà đã sử dụng số tiền của bà L và số tiền của bà để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 1.506,2m² đất trồng cây lâu năm tại thửa số 63, tờ bản đồ số 41 xã S, huyện C, Đồng Nai. Được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 179776 (Số vào sổ cấp GCN: CS 06097) ngày 06/6/2019 cho bà Nguyễn Thị T1.
Bà T1 thừa nhận là nguồn tiền để nhận chuyển nhượng là của bà L, nhưng bà L đã cho bà và bà là người trực tiếp thỏa thuận nhận chuyển nhượng và trả tiền cho ông T3, không phải đứng tên dùm.
Ông T và bà L yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 179776 (Số vào sổ cấp GCN: CS 06097) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày ngày 06/6/2019 cho bà đối với thửa 63, tờ bản đồ số 41 xã S, huyện C và Công nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà L thì bà không đồng ý. Còn về tình cảm, bà T1 có thể chuyển nhượng diện tích đất và cho lại bà L 01 tỷ đồng. Đối với yêu cầu khởi kiện thì bà đề nghị Tòa án xử bác yêu cầu của ông T, bà L.
Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T1 và ông Nguyễn Đình T2 thì bà T1 không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L trình bày tại phiên tòa sơ thẩm:
Bà ủy quyền cho ông Nguyễn Đình Trai T, bà thống nhất với lời trình bày của ông T. Tại phiên tòa hôm nay bà xác định, nguồn tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Đình T4 Thượng là của bà và ông T hùn nhau để nhận chuyển nhượng, phần hùn của bà thì bà gửi tiền về thông qua bà T1, bà Đ để giao cho ông T và có phần bà chuyển tiền về cho ông T, đất sau khi nhận chuyển nhượng vẫn để ông T quản lý sử dụng. Giấy tờ làm hợp đồng chuyển nhượng ngày 06/10/2018 là do ông T trực tiếp lập và thanh toán tiền cho ông T3, sau khi thực hiện xong thì bà mới về Việt Nam ký vào hợp đồng này. Bà T1 cho rằng, bà cho tiền bà T1 và bà T1 là người đứng ra trực tiếp trả tiền nhận chuyển nhượng là không đúng, bà xác định bà T1 không biết gì về việc giao dịch chuyển nhượng diện tích bao nhiêu, giá bao nhiêu và thanh toán tiền như thế nào, sự thật là bà nhận chuyển nhượng cho bà để sau này khi về Việt Nam định cư thì bà có đất đai để sử dụng, vì thời điểm nhận chuyển nhượng bà chưa có hộ khẩu định cư tại Việt Nam và ông T thì chuẩn bị cưới vợ nên không thể đứng tên trên giấy tờ đất nên bà nhờ bà T1 (em ruột bà) đứng tên giùm (khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đầu tiên chuyển nhượng từ vợ chồng ông T3 qua, vì bà T1 đứng tên giùm nên không có giữ giấy bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà Đ là người giữ giấy bản chính cho bà), hoàn toàn không có việc bà cho tiền bà T1 để bà T1 trực tiếp nhận chuyển nhượng. Chính vì bà T1 có ý định chiếm luôn tài sản này để chuyển nhượng cho người khác lấy tiền, biết được ý định của bà T1
nên bà đã nhiều lần yêu cầu bà T1 làm thủ tục chuyển tên lại trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà T1 không đồng ý mà yêu cầu bà phải cho tiền bà T1 thì bà T1 mới đồng ý ký chuyển tên lại cho bà Nguyễn Thị Đ. Khi đó, bà có nói với bà T1 là bà chưa có tiền, bà T1 cứ ra Phòng công chứng ký sang tên lại cho bà Đ, rồi khi về Mỹ bà làm có tiền sẽ gửi về cho bà T1. Bà T1 lúc đó cũng đồng ý, nhưng vì có ý chiếm tài sản của bà nên khi ra Phòng công chứng thì bà T1 lấy cớ có công việc phải đi và bỏ đi luôn không quay lại Phòng công chứng để ký vào hợp đồng chuyển nhượng sang tên lại cho bà Đ.
Thấy bà T1 như vậy, bà sợ bà T1 đang đứng tên sẽ ký chuyển nhượng tài sản của bà cho người khác, nên bà có ra Phòng công chứng nhận mình là bà T1, ký vào hợp đồng chuyển nhượng sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ bà T1 qua bà Đ đứng tên, mục đích là giữ lại đất của mình, nên trong giấy chứng nhận có phần chỉnh lý qua tên bà Nguyễn Thị Đ. Nhưng sau đó, nhận thấy theo quy định thì việc bà ký tên thay cho bà T1 là không đúng, nên bà có yêu cầu bà Đ làm thủ tục đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ hủy bỏ phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Đ. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ đã hủy bỏ và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà T1, cầm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính bà T1 lại đi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác nhằm muốn chiếm luôn tài sản của bà.
Sự thật là tài sản của bà, chỉ nhờ bà T1 đứng tên giùm, nên bà muốn về Việt Nam tham dự phiên tòa để trình bày rõ sự việc mong Tòa xem xét và đây là tài sản không chỉ của riêng bà mà bà hùn nhận chuyển nhượng với ông T. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 179776 (số vào sổ cấp GCN: CS 06097) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày ngày 06/6/2019 cho bà T1 đối với thửa đất số 63, tờ bản đồ số 41 xã S, huyện C và Công nhận quyền sử dụng đất cho ông T (phần của bà hùn với ông T thì tự bà và ông T giải quyết với nhau), vì như bà đã trình bày bà T1 không phải là chủ chuyển nhượng thật sự, bà T1 chỉ là người được bà nhờ đứng tên, tiền chuyển nhượng là của bà và ông T (điều này bà T1 đã thừa nhận), bà xác định khoản tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất này bà không có cho bà T1 như bà T1 trình bày.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình T2 trình bày trong đơn đề nghị:
Vào ngày 01/10/2019 ông có nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị T1 thửa đất số 63, tờ bản đồ số 41 xã S, huyện C, Đồng Nai. Trong cùng ngày ông đã nộp hồ sơ kê khai đăng ký xin cấp giấy sang tên và được cấp Biên nhận số 14/BP – TTHS. Tuy nhiên sau đó Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh C trả lời cho ông hồ sơ chưa đủ điều kiện giải quyết vì có đơn ngăn chặn của ông Nguyễn Đình Trai T, cùng có đơn ngăn chặn ông T có cung cấp Thông báo thụ lý vụ án số 164/TB-TLVA ngày 18/10/2019 với nội dung đang tranh chấp giữa bà T1 và ông
T thửa đất trên. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, ông đề nghị Tòa án đưa ông vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Người làm chứng ông Nguyễn Đình Trai T3 trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 63, tờ bản đồ số 41 xã S, huyện C là của vợ chồng ông, khi chuyển nhượng ông không biết bà T1 và bà T1 không trực tiếp thỏa thuận chuyển nhượng hay thanh toán tiền chuyển nhượng gì cho vợ chồng ông. Ông trực tiếp thỏa thuận chuyển nhượng với ông Nguyễn Đình Trai T và bà Nguyễn Thị L (bà L thông qua ông T), ông T là người trực tiếp thanh toán tiền cho ông và có lập hợp đồng chuyển nhượng viết tay ngày 06/10/2018, khi về Việt Nam thì bà L trực tiếp ký vào hợp đồng chuyển nhượng này. Do ông T và bà L đề nghị để bà T1 đứng tên giùm nên khi ra Phòng công chứng ký vào hợp đồng theo quy định thì ghi tên bà T1. Sau khi chuyển nhượng thì diện tích đất chuyển nhượng ông giao cho ông T quản lý và ông T là người canh tác trên đất, bà T1 hoàn toàn không có đến tiếp nhận đất và cũng không có canh tác gì trên đất từ đó đến nay.
- Người làm chứng bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Bà là chị ruột của bà L và bà T1, sự thật về việc thỏa thuận nhận chuyển nhượng, nguồn tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông T3 đúng như bà L trình bày, bà T1 chỉ là người đứng tên giùm, nên khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu sau khi nhận chuyển nhượng từ ông T3, mặc dù đứng tên bà T1 nhưng bà L giao cho bà giữ giấy chứng nhận bản chính. Còn sự việc sau đó thì đúng như bà L trình bày.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DSST ngày 18-5-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định:
Căn cứ các Điều 3, 5, 26, khoản 3 Điều 35, 37, điểm a khoản 1 Điều 39, 34, 147, 227, 228, 273, 469, 470, 479 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; các Điều 163, 164, 165, 166, 221 của Bộ luật Dân sự 2015; các Điều 95, 100, 106, 166, 202, 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn ông Nguyễn Đình T4 Tiểu đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T1.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 179776 (Số vào sổ cấp GCN: CS 06097) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 06/6/2019 cho bà Nguyễn Thị T1 đối với thửa đất số 63, tờ bản đồ số 41 xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
Công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 1.506,2m² thuộc thửa đất số 63, tờ bản đồ số 41 xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai cho ông Nguyễn Đình Trai T.
Ông Nguyễn Đình Trai T được quyền liên hệ với cơ quan tổ chức có thẩm
quyền để làm các thủ tục liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất được Tòa án công nhận quyền sử dụng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 19-5-2023, bị đơn bà Nguyễn Thị T1 có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông K trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bà T1, sửa bản án dân sự sơ thẩm. Toàn bộ số tiền chuyển nhượng đất là của bị đơn bỏ ra mượn, ở đây không có quan hệ vay mượn. Nếu như đứng tên giùm thì phải xem xét công sức đóng góp của bà T1.
Nguyên đơn ông Nguyễn Đình Trai T trình bày: không đồng ý với kháng cáo của bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự số 18/2023/DS-ST ngày 18/5/2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, tòa diện chứng cứ ý kiến của Viện kiểm sát, của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về hình thức đơn kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Ngày 19/5/2023 bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
[1] Về thẩm quyền xét xử: Căn cứ Điều 37, 38 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xác định đúng thẩm quyền.
[2] Về tư cách người tham gia tố tụng: Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.
[3] Về quan hệ tranh chấp: cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ tranh chấp.
[4] Nội dung: ông Nguyễn Đình Trai T và bà Nguyễn Thị L là bạn bè nên khi về Việt Nam hai người có bàn bạc hùn vốn nhận chuyển nhượng đất. Vào ngày 06/10/2018, ông T bà L cùng nhau hùn vốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất 1.506,2m² thửa 63, tờ bản đồ số 41 xã S, huyện C tỉnh Đồng Nai của
ông Nguyễn Đình Trai T3 với giá 1.650.000.000 đồng. Ông T là người trực tiếp làm hợp đồng chuyển nhượng viết tay và thanh toán tiền cho ông T3. Thanh toán làm nhiều đợt, phần hùn của ông là ½ giá trị đất, bà L là ½ giá trị đất. Phần của ông T thì ông T đứng ra thanh toán trước, phần của bà L thì bà lý gửi tiền về thông qua bà Nguyễn Thị T1 (em bà L), Nguyễn Thị Đ (chị bà L) rồi giao lại cho ông T để ông T trực tiếp thanh toán số tiền chuyển nhượng cho ông T3. Thời điểm ông T bà Lý h vốn nhận chuyển nhượng đất thì ông T chuẩn bị cưới vợ nên việc đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sợ liên quan đến tài sản chung sau này, còn bà L là người định cư tại Mỹ không thuận lợi cho việc đứng tên nên có nhờ người em ruột của bà L là bà Nguyễn Thị T1 đứng tên trên hợp đồng chuyển nhượng ký tại văn phòng công chứng và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng quyền sử dụng đất số CQ 762363 ngày 30/01/2019. Sau đó, bà T1 cố ý chiếm đoạt để chuyển nhượng cho người khác. Nay ông T khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Nguyễn Thị T1 đứng tên, công nhận quyền sử dụng diện tích đất này cho ông và bà L.
Bà T1 thừa nhận nguồn tiền để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là của bà L nhưng bà L đã cho bà và bà là người trực tiếp thỏa thuận nhận chuyển nhượng và trả tiền cho ông T3, không phải đứng tên giùm.
Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với những căn cứ sau:
Thứ nhất, việc bà T1 đứng tên nhận chuyển nhượng đất giùm ông T, bà L thì các bên không làm giấy tờ gì nhưng có bà Đ là chị ruột của bà L bà T1 xác nhận.
Thứ hai, người trực tiếp giao dịch, thỏa thuận, thương lượng và trả tiền cho ông T3 là ông T bà L chứ không phải bà T1, điều này được ông T3 xác nhận.
Bà T1 cho rằng bà là người trực tiếp đứng ra giao dịch và trả tiền cho ông T3 nhưng ông T3 không thừa nhận và bà T1 không có chứng cứ chứng minh nên lời khai này của bà T1 không có căn cứ để chấp nhận.
Thứ ba, nguồn tiền mua đất là của bà L gửi về từ Mỹ được bà T1 thừa nhận nhưng lời khai của bà T1 không thống nhất, lúc thì khai tiền này là bà L cho bà T1, lúc thì khai tiền này do bà L cho bà T1 mượn nhưng không có giấy vay mượn nên không có cơ sở chấp nhận.
Thứ tư, việc quản lý, sử dụng đất sau khi nhận chuyển nhượng: do ông T là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất việc này được ông T3 xác nhận. Bà T1 không quản lý, sử dụng đất.
Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở xác định ông T, bà L có hùn vốn nhận chuyển nhượng đất của ông T3 và nhờ bà T1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có thật. Bà T1 là người đứng tên giùm, nhưng lại tự ý chiếm đoạt bằng cách ký hợp đồng chuyển nhượng cho người khác là xâm phạm đếnh quyền và lợi ích hợp pháp của ông T bà L. Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Nhận định của Hội đồng xét xử: Xét thấy, cấp sơ thẩm đã xét xử phù hợp theo quy định của pháp luật và tại phiên tòa hôm nay bị đơn kháng cáo nhưng không đưa ra được những chứng cứ khác ngoài những chứng cứ đã thu thập ở cấp sơ thẩm nên không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo.
Tại phiên tòa ngày hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T1.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 18/5/2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Nguyễn Thị T1 phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ theo biên lai thu số 0000901 ngày 11-7-2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Các thẩm phán |
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
|
Nguyễn Văn Minh |
Phan Văn Yên |
|
Hồ Thị Thanh Thúy |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Yên |
Bản án số 548/2024/DS-PT ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 548/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
